Sống

Những truyện ngắn hay về cuộc sống, mỗi câu truyện một bài học, góc nhìn thú vị cho bạn đọc.
Chú ý: Tất cả các link liên kết sẽ được mã hóa và quét virus.
Miễn phí upload và chia sẻ file không giới hạn
  • Hẻm mười ba

    Trước khi được trải lớp bê tông mấy năm trước, con hẻm này khá nhếch nhác, mùa mưa ngập từng vũng rất khó đi. Nó là một con hẻm cụt, tám căn nhà san sát nhau. Không tính ngôi biệt thự bên phải của vợ chồng ông cán bộ về hưu và một cửa hàng khá lớn bên trái, sinh hoạt chung trong hẻm chỉ có sáu gia đình.

    ***

    Có điều khá lạ là sáu gia đình này đều là những người góa vợ hoặc chồng, bọn nhỏ nay đã trưởng thành nên cuộc sống trong hẻm không có nhiều đảo lộn bởi cái nghịch ngợm trẻ con. Sống ôn hòa, thân thiện, có người sống một mình như anh Ba xe ôm và chị Hòa bán chè ở chợ, còn có một bà cụ già sống cùng với một con chó lông nâu, chó và chủ hiền từ như nhau. Bà cụ có hai con gái đi lấy chồng xa, thỉnh thoảng ghé thăm, chu cấp cho bà, chuyện nấu nướng bà tự lo được.

    Ông Tâm làm bảo vệ cho một cửa hàng ngoài phố, sống chung với con trai kỹ sư xây dựng, làm việc cho một công ty cầu đường, nay đây, mai đó nên chưa có ý định lập gia đình.

    Ông Hân thợ nề, tuổi khá cao nhưng vẫn thích cái nghề của mình, ai gọi sửa chữa nhà cửa lặt vặt là ông mang đồ nghề đi làm. Vợ chồng cô con gái sống chung khuyên ông nghỉ ngơi hưởng tuổi già, ông nhăn nhó nói tụi bây muốn ba chết sớm hả

    Còn một gia đình nữa, căn nhà phía cuối xoay mặt ra đường. Trước đây là một khoảng đất trống dành cho bọn trẻ con đùa nghịch, chủ đất bán lại cho gia đình hai mẹ con người phụ nữ có khuôn mặt khá buồn hơn mười năm trước. Chị Như, bán giải khát đầu hẻm, bên cạnh ngôi biệt thự của ông cán bộ hưu trí. Cậu con trai thỉnh thoảng ra phụ mẹ những khi rảnh rỗi. Khá điển trai, ba mươi tuổi nhưng cậu chưa có gia đình, kiến trúc sư, quản lý thiết kế cho một tập đoàn xây dựng

    Chị Như từng là một nhà giáo dạy toán cấp hai, không hiểu vì sao lại bỏ nghề, lưu lạc về sống cuối con hẻm này hơn hai chục năm nay. Không ai biết rằng lúc còn trẻ, chị là một tiểu thư xinh đẹp nhiều chàng trai theo đuổi, con gái của một người có quyền lực trong xã hội, một gia đình chỉ có hai cô con gái.

    Tám ngôi nhà, chỉ có ông Hân thợ nề là người cũ, biệt thự của ông cán bộ về hưu đầu ngõ mới được xây dựng năm, sáu năm trước ông mua lại ba căn nhà liền kề

    googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547018920097-0'); }); googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547019386831-0'); });

    2/

    Xóm nghèo, tất cả sáu gia đình với mười nhân khẩu trong con hẻm khá rộng nhưng chỉ có một lối ra duy nhất. Con hẻm khá đẹp với những giàn hoa giấy đỏ, hoa chuông màu vàng, những chậu cây cảnh dọc hai bên được chăm sóc bởi tất cả những người sống ở đây, họ như một gia đình, mọi người ý thức làm cho con hẻm sinh động, sạch sẽ hơn

    Chi phí trải lớp bê tông do ông chủ ngôi biệt thự phía trước bỏ ra, mặc dù gia đình ông không đi lại trong con hẻm này. Thỉnh thoảng người ta nhìn thấy ông vào hẻm thăm hỏi người này, người nọ nhưng vợ ông thì không bao giờ. Sự giàu nghèo khá tách bạch trong quan hệ hàng xóm giữa sáu ngôi nhà và phía ngoài kia, ngôi biệt thự cùng với chủ cửa hàng thời trang

    Người ta cũng thấy lạ không hiểu sao ông cán bộ về hưu có thể rộng lượng tài trợ kinh phí để trải bê tông con hẻm. Có người bảo là cho sạch sẽ và giá trị ngôi biệt thự sang trọng hơn

    Chuyện anh Ba xe ôm và chị Hòa bán chè qua lại với nhau thì ai cũng biết, hai người như trai gái mới lớn nhưng không cần phải hẹn hò nhau đầu đường góc phố, chỉ cần vài bước chân, anh Ba có thể băng qua con hẻm vào nhà chi Hòa không cần phải nhìn trước, ngó sau. Họ đang có ý định về ở chung một nhà nhưng lại không muốn sinh hoạt trong hẻm bị đảo lộn. Vậy là nhà ai nấy ở

    Còn chuyện éo le khác nữa là ông Tâm cũng thích chị Hòa nhưng lại chơi thân với anh Ba xe ôm. Chị Hòa biết hai gã đàn ông độc thân mê mình nhưng chị chọn anh Ba vì không phải vướng bận chuyện con cháu, xa gần nhắn nhủ ông Tâm siêng ra uống cà phê quán chị Như, ông trả lời có mà khùng ngày nào cũng ra ám quán người ta

    Mùa đông năm nay khá lạ, không lạnh lắm nhưng mưa liên miên, mấy ông trong hẻm không đi làm được đành phải ngồi nhà, lại ra quán giải khát chuyện trò. Ông Hân thợ nề rít thuốc, nhìn chị Như mĩm cười, nói nhỏ " Chị may mắn thiệt, sắp có con dâu ngon rồi ". " Anh này, tôi có biết gì đâu ". " Về hỏi con mình thì rõ.." Ông Hân nhìn qua ngôi biệt thự, lấp lửng. Chị Như bận pha cà phê cho khách, không để ý cái liếc mắt của ông hàng xóm. Cậu con trai cũng vừa đi làm về ghé vào quán phụ chị dọn dẹp, mưa gió thế này cậu chẳng muốn cho mẹ phải vất vả nhiều

    Bên ngoài, trước cổng ngôi biệt thự, cô con gái của ông cán bộ về hưu cũng vừa đi làm về, kín đáo nhìn qua quán cà phê

    Mấy ông bà trong hẻm bàn tán chuyện cậu đang cặp kè với một cô gái, ai đó đã nhìn thấy và kể lại cho bà mẹ cậu nghe, họ chúc mừng vì chị sắp có con dâu tương lai xinh đẹp, chị cười. Điều chị mong ước là con trai mình có một gia đình, một người phụ nữ thay chị bên cạnh con trai mình. Cái tuổi trên năm mươi chị lo lắng rất nhiều về tương lai của con, đứa con chưa bao giờ nhìn thấy mặt cha mình, sự bất hạnh của chị cũng là của con. Thỉnh thoảng chị cũng thúc giục con trai lấy vợ, nhưng chị hiểu sự cô đơn khi người đàn ông duy nhất trong nhà có mái ấm riêng. Như ba mươi năm trước người đàn ông bỏ rơi chị để có mái ấm riêng, chị lại phải sống một mình

    Ba mươi năm một mình chị nuôi con khôn lớn, học hành rồi thành đạt rất khó khăn. Có điều không ai thắc mắc chị làm sao có đủ tiền để lo cho con học cái ngành kiến trúc khá tốn kém

    Gần cuối tháng chạp, hơn mười ngày nữa là Tết nguyên đán, chị Như đóng kín cửa sau khi cậu con trai đi làm, không dọn hàng ra bán. Mấy hôm nay bà con trong hẻm thấy nhà chị đỏ đèn rất khuya, họ nghe tiếng nhỏ to giữa hai mẹ con. Người phụ nữ nhu mì, luôn nhỏ nhẹ lại có giọng nói đanh thép với con trai, hình như có cả tiếng thỗn thức của chị

    Hàng xóm bàng hoàng khi hay tin chị Như bị tai nạn chấn thương não đang cấp cứu tại bệnh viên hôm hai lăm Tết, cậu con trai nói rằng mẹ cậu khó qua khỏi vì quá nặng, mọi người dường như bỏ cả công việc vào thăm chị, có cả ông chủ biệt thự về hưu. Mọi người không ngạc nhiên lắm khi ông trao bì thư khá dày cho cậu con trai để lo cho mẹ, ai cũng biết ông là người tốt, hay quan tâm, giúp đỡ bà con láng giềng khi gặp khó khan. Họ thay nhau túc trực tại bệnh viện để cậu con trai về nhà nghỉ ngơi, [s1] [s2] nhưng cậu nhất định không rời hành lang phòng hồi sức cấp cứu, cho đến ngày thứ ba bác sỹ nói rằng mọi chuyện đã an bài

    Người đến an ủi cậu là ông cán bộ hưu trí cùng anh Ba xe ôm và chị Hòa bán chè, mọi người buồn bã đưa chị Như ra xe về nhà

    Đám tang không lặng lẽ như mọi người nghĩ, con hẻm cụt không cần phải chặn lối đi, khách đến viếng, thắp nhang cho chị khá đông. Bạn bè, đồng nghiệp của cậu con trai. Khá nhiều người là dân lao động, khách hàng của chị, nhiều người là bạn học cũ, những người trước đây khi còn sống chẳng thấy ghé thăm. Trong số bạn của chị, một vài người nhận ra ông cán bộ về hưu là người quen

    Những gia đình trong hẻm cụt và hai nhà phía trước cũng tham gia giúp đỡ trong tang lễ, họ thay nhau tiếp khách và cám ơn. Không bà con thân thuộc, vành khăn tang duy nhất quấn vụng về trên đầu cậu con trai

    3/

    Một ngày sau lễ cúng bốn chín ngày cho chị Như, ông cán bộ về hưu qua thắp nhang, khi cắm nhang vào bát hương trước di ảnh của chị, cậu con trai nhìn thấy ông thì thầm cầu nguyện điều gì đó rồi xoay qua cậu nói nhỏ " Bác biết con với con gái bác thích nhau. Lúc nào thuận tiện, bác sẽ kể cho con nghe một câu chuyện. Tình cảm của hai con nên dừng lại, hãy coi như anh em ruột thịt để linh hồn mẹ con được siêu thoát "

    Hai ngọn đèn sáp lắc lư như nhảy múa trên bàn thờ. Hai người đàn ông, một già, một trẻ nhìn nhau, người già không muốn dấu câu chuyện nhưng chờ cơ hội, người trẻ laị nôn nóng muốn biết

    googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547019495164-0'); }); googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547019585666-0'); });

    Hai đôi mắt nhìn nhau, hai đôi mắt giống nhau kỳ lạ, hai đôi mắt đồng huyết.

    Bùi Thanh Xuân

    Tháng giêng 2019

  • Mở lòng

    Trong cuộc sống còn có nhiều vấn đề mà khoa học chưa được tiếp cận, chỉ những người có những cuộc trải nghiệm mới hiểu được những vấn đề.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời - Lần 2")

    ***

    Vào một buổi sáng, ông Tùng đang ngồi đọc báo và uống cà phê trong sân vườn, thì bà Tín đi chợ về, ông Tùng lên tiếng :

    - Bà nó về rồi đấy à ?

    - Vâng, tôi về đây,

    Bà Tín vừa vào bếp,lấy rổ rá để đựng thức ăn mà bà mới mua ở chợ về, vừa nói chuyện với ông Tùng:

    - Ông biết không ? Tôi vừa qua nhà bà Thản, thì gặp cái thằng Vọng ở đó, tôi thấy vẻ mặt của bà Thản sợ sệt, cứ xua tay và nói " đi chỗ khác đi, để tôi còn bán hàng, mới sáng sớm mà cậu tới ám quẻ thì tôi bán hàng làm sao được ?", tôi thấy tội nghiệp bà ấy quá , ông à. Chỉ tại cái thằng què, nói thì chẳng ai nghe được ....

    Ông Tùng tiếp lời:

    - Tại sao người nhà đâu mà để cái thằng ngớ ngẩn ấy đi lang thang khắp nơi, làm khổ mọi người xung quanh ?

    - Ừ, ông nói đúng đấy, lẽ ra người nhà phải nhốt nó ở trong nhà mới đúng

    Ông Tùng tâm sự:

    - Nhìn vào mấy thằng dở người, người tôi lại sởn gai ốc. Hình như cái thằng què đó ở bên cạnh nhà giáo sư Trân thì phải, ông Trân chắc cũng bị ảnh hưởng vì cái thắng ranh này , chán thật

    Bà Tín sực nhớ:

    - Nói tới ông Trân, tôi mới nhớ ra, Hôm chủ nhật vừa rồi, vợ chồng mình về quê, giáo sư Trân tới thăm, ông ấy có tặng mình hai cuốn sách, đó là cuốn " Hướng tới tương lai" và tập thơ "Tình đời" của tác giả Cầu Thị do giáo sư Trân viết lời tựa, tôi đã đọc qua, hay lắm ông à.

    Ông Tùng đáp lời:

    - Để khi nào có thời gian, tôi sẽ đọc.

    Phương Anh, cô cháu gài đang ngồi học bài, nghe được câu chuyện, vội quay sang hỏi bà Tín:

    - Bà ơi, ông Vọng đó là ai hả bà ?

    Bà Tín trả lời cháu gái:

    - Cậu đó bị tật cháu à,.Cậu đó không đi được nên phải ngồi xe đẩy, cậu đó nói chẳng ai nghe được gì cả. Hồi trước gia đình cậu đó là hàng xóm của nhà mình.. Bố mẹ của cậu là đồng nghiệp của ông bà, nhưng bố của cậu ta đã mất cách đây 3 năm.

    Cô cháu gái lại hỏi tiếp:

    - Thế ông Vọng đó có đi học được không hả bà ?

    Ông Tùng trả lời một cách coi thường:

    - Đầu óc của cái thằng tật nguyền đó có suy nghĩ được đâu, mà đòi học với chả hành.

    Bà Tín căn dặn Phương Anh:

    - Khi thấy cậu ta đến , cháu đừng để cho cậu ta vào nhà mình, cháu nhé.

    Ông Tùng nói như tâm sự với chính mình:

    - Cũng tội nghiệp ông Thân bà Uyên, sinh ra cậu con trai bị tật nguyên như vậy.

    Bà Tín thắc mắc:

    - Đúng thế, không biết bà ấy bây giờ sống ra sao . cứ thả thằng con lang thang như vậy?

    Vài tuần sau, vợ chồng ông Tùng đang đi dạo trên đường, thì bắt gặp Vọng đang đi xe lăn tới, bà Tín vội nháy ông Tùng tránh đi chỗ khác, nhưng chưa kịp tránh thì Vọng đã lăn xe đến gần, Vọng lên tiếng:

    - Cháu ... chào ... hai bác

    - Chào câu ! ông Tùng cất tiếng chào và nói: - Thôi đi chỗ khác chơi đi , cậu giỏi lắm, thôi đi nhé, chào cậu.

    Trước thái độ lạnh nhạt của ông Tùng, Vọng vô cùng thất vọng và hết sức bất bình với vợ chồng ông. Cậu nghĩ : " Mình tuy bị tật nhưng vẫn còn nhận thức được, mà sao ông bà ấy lại đối xử lạnh nhạt với minh như vậy, thât chẳng ra làm sao."

    Vài ngày sau, bà Thản sang nhà ông Tùng bà Tín chơi, vừa tới cổng, thấy ông Tùng đang ngồi đọc báo, bà Thản đon đả chào:

    - Chào ông, ông có khỏe không ?

    Ông Tùng đáp lời:

    - Ồ, chào bà Thản, cảm ơn bà nhiều, tôi vẫn khỏe ...

    Và hướng vào trong nhà gọi:

    - Bà nó ơi, bà Thản sang chơi đây này !

    Nghe tiếng ông Tùng gọi,, bà Tín vội chạy ra:

    - Ôi, chào bà Thản, công việc làm ăn của bà ra sao ?

    Bà Thản trả lời:

    - Cũng bình thường, bà à, thế bà làm gì đấy ?

    Bà Tín nói:

    - Tôi đang nói chuyện với cháu Phương Anh, căn dăn cháu nó vài điều

    - Thế à ...

    Bà Thản kể luôn:

    - À, hôm qua cậu Vọng lại đến quán nhà tôi, tôi sợ quá... hình như cậu ta vào quán, làm khách hàng của tôi đi mất ...

    Bà Tín nói một cách bực tức:

    - Thế thì không được rồi, bà phải sang gặp bà Uyên ngay, nói cho bà ấy biết về thằng con bà ấy làm phiền người khác như vậy là không được ...

    Bỗng nhiên, ông Tùng có vẻ hóm hỉnh:

    - Ấy ấy, có khi vợ chồng ta đi nói chuyện giúp bà Thản, chứ bà Thản không chịu đi đâu, vì sao, bà nó có biết không ?

    Bà Tín đáp lại:

    - Tôi không hiểu?

    Ông Tùng nói tiếp:

    - Vì bà Uyên ở cạnh nhà " Người một thời " của bà Thản đấy!

    Hiểu được ý chồng, bà Tín vào hùa theo:

    - À, à .... Hôm qua, tôi thấy " người một thời " của bà trên truyền hình với hai tác phẩm của tác giả Cầu Thị...

    Ông Tùng nói:

    - Tôi chưa kịp đọc hai cuốn sách đó, con cháu đã mượn đọc rồi. ông ấy đã tặng cho bà chưa?

    Bà Thản đỏ măt:

    - Không ! Cái ông bà nay, chúng ta già hết cả rồi .... Nên ông nên bà hết rồi, lại còn trêu nhau nữa, không sợ con cháu cười à?

    googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547018920097-0'); }); googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547019386831-0'); });

    Ông Tung tiếp lời: - Gìa thì đã làm sao ? Tếu táo một chút cho trẻ lại... Khi nào tôi sẽ đến thăm ông Trân để tìm hiểu hai cuốn sách mà ông ấy viết lời tựa.

    Phương Anh đang đứng ngoài cửa, nghe ông nói vậy liền nói :

    - Ông ơi, cho cháu đi với, cháu đọc hai cuốn sách đó, cháu thấy rất hay, ông ạ!

    Ông Tùng liền hỏi:

    - Sách của ông Trân tặng ông bà đâu rồi?

    Nghe thấy vậy, Phương Anh vừa sợ, vừa trả lời:

    - Bạn cháu ... thấy hay .... nên ... bọn nó đòi mượn!

    Ông Tùng nói luôn:

    - Sao cháu lại cho mượn như thế, Để làm mất hai cuốn sách đó là không được đâu nhé!

    Thấy bộ dạng sợ sệt của Phương Anh, cả nhà đều cười.

    Vào một buổi sáng, ông Trân đang làm việc, thì ông Tùng và Phương Anh bước vào phòng , ông Tùng lên tiếng:

    - Chào Cậu, về hưu rồi mà cậu vẫn chăm chỉ như ngày nào...

    Giáo sư Trân liền trả lời:

    - Về hưu, mình mới có điều kiện thâm nhập thực tế, mới khám phá ra những điều kỳ diệu trong cuộc sống. Vợ mình và Uyên giới thiệu cho mình 2 cuốn sách rất tuyệt vời, đọc thấy có những điều hay, ý tưởng thiết thực, nên mình đã xin phép tác giả của nó, được công bố để mọi người biết. Mình đã tặng câu hai cuốn sách đó, cậu đã đọc chưa?

    Ông Tùng liếc nhìn cô cháu gái:

    - Mình chưa kịp đọc, con cháu này của mình đẫ đòi mượn rồi, đọc xong, nó lại cho bọn bạn của nó mượn, nên mình đã đọc được chữ nào đâu.

    Giáo sư Trân quay sang Phương Anh và nói:

    - Cháu thích 2 cuốn sách đó lắm phải không?

    Phương Anh bẽn lẽn trả lời:

    - Dạ, không chỉ có cháu, mà bọn bạn cháu , đứa nào cũng thích.

    Nghe thấy vậy, Giáo sư Trân đứng dây, đi về phía tủ sách, nơi có mấy chồng sách mới, thơm phức mùi mực in, giáo sư chọn một vài cuốn sách. Ghé sang bàn làm việc, lấy chiếc bút, rồi ông trở lại chỗ ngồi, giở sách và ghi:

    - Ông ký tặng cháu và các bạn cháu mấy cuốn sách của tác giả Cầu Thị. Còn một tác phẩm nữa của chú ấy, ông sẽ viết lời tựa và sẽ công bố trong thơi gian tới.

    Phương Anh đón lấy những quyển sách từ tay giáo sư Trân:

    - Dạ, cháu xin ông ạ. Chúng cháu muốn gặp tác giả Cầu Thị ...

    Bất chợt, ông Tùng nhìn thấy bóng dáng của Vọng đang lăn xe vào nhà của giáo sư Trân, sực nhớ ra điều gi, ông Tùng nói với giáo sư Trân:

    - Trân à, có khi tớ xin phép, tớ mới nhớ ra, tớ có hẹn với khách quen ở nhà, tớ xin phép được về.

    Ông Tùng quay sang cháu gái:

    - Về thôi cháu ...

    Phương Anh nói với ông Tùng:

    - Hình như chú ấy là ...

    Ông Tùng nghiêm nét mặt:

    - Thôi, về đi ...

    Ông Tùng ra đến sân, lại gặp Vọng ở đó, Vọng lên tiếng chào:

    - Cháu... chào... chào ... bác, chú ... chào ... cháu.

    Ông Tùng đáp lại một cách lạnh lùng:

    - Không dám, chào cậu.

    Trên con đường trưa đầy nắng gắt, Phương Anh đang lái xe máy đèo ông Tùng, bất ngờ cô hỏi ông:

    - Tại sao ông bà lại ghét chú Vọng thế ạ?

    Ông Tùng trả lời:

    - Cái thằng dở người ai mà chẳng ghét

    Phương Anh tiếp lời ông:

    - Cháu lại thấy chú ấy là con người đầy nghị lực ...

    Ông Tùng vội gạt đi:

    - Nghị lực gì cái thằng dở người đó, thôi, chăm chú vào tay lái đi ...

    Vào buổi chiều, sau khi ngủ dậy, ông Tùng đi sang phòng của Phương Anh, thấy cô đang ngồi học bên chiếc laptop, ông liền lên tiếng:

    - Phương Anh, chiều nay cháu không tới trường à? Cho ông mượn hai quyển sách mà ông Trân tặng cháu sáng nay.

    Nghe ông nói, Phương Anh liền đứng dậy, đi tới kê sách để lấy sách cho ông, vừa nói:

    - Dạ, tuần này lớp cháu nghỉ để chuẩn bị cho hội thảo khoa học sinh viên, cháu cũng đang viết tham luận cho cuộc hội thảo đó và nội dung bài tham luận của cháu nói về tác giả Cầu Thị, người viết hai cuốn sách đó, ông à. Ông ơi, cháu xin gửi ông hai cuốn sách ạ.

    Phương Anh trao sách cho ông bằng cả hai tay một cách lễ phép, ông Tùng giơ tay ra đón nhận sách từ tay cháu gái, một cô sinh viên năm thứ 3 của một trường đại học thuộc khối xã hội và nhân văn.

    Ông Tùng rất vui:

    - Thề thì hay quá, cháu cứ tiếp tục làm việc đi. Tiếc quá, ông chưa đọc hai cuốn sách đó để góp ý cho cháu. Thôi, ông về phòng đọc đây.

    Phương Anh nói tiếp:

    - Ông à, cháu muốn mời ông Trân với tư cách là giáo sư và tác giả Cầu Thị tham gia cuộc hội thảo của chúng cháu ...

    - Ồ, cái đó để ông nói chuyện với ông Trân cho, cứ yên tâm đi!

    Phong Lan thắc mắc:

    - Nhưng còn tác giả Cầu Thị ...

    - Cứ yên tâm đi, rồi sẽ có hết ....

    Ông Tùng vừa nói, vừa đi ra ngoài và khép lại cánh cửa căn phòng của cháu gái

    Trở về phòng của mình, ông Tùng đến chiếc bàn để bộ ấm chén, ông lấy phích nước rót vào ấm, rồi lấy chiếc ấm đó, rót cho mình một chén trà nóng. Ông vừa nhâm nhi trà, vừa ngồi vào chiếc ghế để cạnh cửa sổ và giở sách ra đọc. Cuốn đầu tiên mà ông đọc là cuốn " Hướng tới tương lai". Ông đã bị cuốn hút ngay từ những trang đầu bơi cách hành văn rất mạch lạc của tác giả. Ông cảm phục tác già về cách giả quyết vấn đề rất hợp logic mà trong cuộc đời nghiên cứu của ông đã từng gặp những bài viết như vậy. Đúng như giáo sư Trân nhận xét trong lời tựa :" Trong cuộc sống còn có nhiều vấn đề mà khoa học chưa được tiếp cận, chỉ những người có những cuộc trải nghiệm mới hiểu được những vấn đề ... tác giả Cầu Thị là một trong những con người như vậy."

    Cuốn sách đã hấp dẫn ông Tùng ngay từ những trang đầu, làm ông say mê. Có những câu ông phải ghi lại vào sổ tay. Ông đọc sách một cách chăm chú, cho đến khi Phương Anh bước vào:

    - Ông ơi, cháu mời ông ra ăn cơm ạ!

    Ông Tùng ngẩng đầu lên:

    - Mấy giờ rồi hả cháu?

    Phương Anh trả lời:

    - 6 giờ rồi , ông ạ. Ông ra ăn cơm đi!

    Ông Tùng nói với cháu gái:

    - Cuốn sách này hay quá, cháu à. Ông cũng muốn gặp tác giả Cầu Thị, chắc người đó phải là học trò cưng của ông Trân rồi. Thôi, ông cháu ta đi ăn thôi!

    Nói xong, ông Tùng và cháu gái đi hướng về phòng ăn, nơi đó có bữa cơm chiều đang đợi họ.

    Vừa vào phòng ăn, ông Tùng lên tiếng:

    - Bà cho ông cháu tôi ăn gì nào?

    Bà Tín vừa chuẩn bị đồ ăn, vừa hỏi:

    - Ông cháu làm gì trong đó mà lâu thế?

    Ông Tung trả lời:

    - Tôi đang đọc cuốn sách " Hướng tới tương lai" của tác giả Cầu Thị.

    Bà Tín đáp lại:

    - Thế hả ? Ông thấy cuốn sách đó như thế nào?

    Ông Tùng vừa vào bàn ăn, vừa nói:

    - Rất tuyệt, bà à. Mai tôi sẽ sang nhà ông Trân để trao đổi về cuốn sách đó, tôi cũng yêu cầu ông ấy cho ông cháu tôi gặp tác giả Cầu Thị. Cháu Phương Anh cũng sẽ có bài tham luận về hai cuốn sách đó trong buổi hội thảo khoa học sinh viên sắp tới, bà à.

    Mắt bà Tín ánh lên niềm vui:

    - Thật tuyệt vơi, cố lên cháu nhé.

    Ông Tùng quay sang Phương Anh:

    - Phương Anh này, tý nữa ăn xong, cho ông mượn bài tham luận của cháu nhé.

    Phương Anh lễ phép:

    - Dạ, vâng ạ.

    Bà Tín đễ thêm vào:

    - Có ông là chuyên gia nghiên cứu xã hội học góp ýthì còn gì bằng.

    Sáng hôm sau, Phương Anh lại đưa ông Tùng đến nhà giáo sư Trân, nghe tiếng chuông cổng, bà Tân là vợ của giáo Trân ra mở cổng với vẻ mặt lạnh nhạt:

    - Anh Tùng đấy à?

    Ông Tùng đáp lời:

    - Vâng tôi đây, chào Tân

    Thấy ông Tùng bước vào phòng mình, giáo sư Trân liến nói:

    - Tùng đến đấy à, tớ đang muốn gặp cậu để hỏi chuyện.

    Ông Tùng hỏi lại:

    - Chuyện gì vậy?

    Giáo sư Trân nghiêm nét mặt nói:

    - Tại sao hôm qua cậu xin phép về giữa chừng?

    Ông Tùng trả lời:

    - Hôm qua tớ có hẹn mà, tớ nói với cậu lúc đó rồi đấy thôi.

    Giáo sư Trân lắc đầu nói:

    - Cậu nói không đúng, cậu muốn tránh cháu Vọng, con của các bạn Thân và Uyên. Cháu Vọng đã kể hết cho vợ chồng mình về thái độ của vợ chồng cậu đối với cháu.

    Ông Tùng nói với giọng khinh miệt:

    - Lại cái thằng dở người đó, cậu bận tâm đến kẻ ăn hại đó làm gì, trong khi đó cậu phải làm nhiều việc ...

    Giáo sư Trân tức lên:

    - Cậu nói cái gì, ai là dở người , ai là kẻ ăn hại hả ? Cậu biết không? Chính các bạn Thân và Uyên dành ra hằng giờ gặp mình để bây giờ cậu có học vị như vậy ...

    Ông Tùng tiếp lời:

    - Đó là chuyện khác, còn việc sinh ra đứa con tật nguyền là không thể chấp nhận được, lẽ ra các bạn đó phải có biện pháp chứ ...

    Giọng giáo sư Trân trở lại bình thường:

    - Việc sinh ra đứa con khuyết tật, đâu phải là tội lỗi, đó là việc xảy ra ngoài ý muốn của con người.

    Ông Tùng như muốn làm lành:

    - Thôi đừng vì cái thắng tật nguyền đó, mà bạn bé chung ta trở nên bất hòa ...

    Giáo sư Trân không nói gì, đôi môi của ông mím chặt và trên tay của ông cầm chiếc chén trà đang uống dở, hai hàng lệ của ông, lăn dài trên đôi má. Không hiểu ông đang giận ông Tùng về những định kiến của ông ấy về những người không may rơi vào hoàn cành khuyết tật, hay ông thương Vọng, một thanh niên không may bị khuyêt tật...

    Để phá vỡ sự im lặng căng thẳng, ông Tùng gợi chuyện:

    - Trân này, ông cháu mình sang đây để muốn trao đổi cùng cậu về nội dung hai cuốn sách của tác giả Cầu Thị và ông cháu mình muốn được gặp tác giả ...

    Giáo sư trả lời một cách thẳng thắn:

    - Không biết tác giả đó có muốn gặp không nhỉ? Những người có tài, nổi tiếng thì chúng ta muốn gặp. Còn những mảnh đời khuyết tật khó khăn, chúng ta lai định kiến, tìm cách lảng tránh. Mình cũng đã từng định kiến, suy nghĩ hời hợt về cộng đồng người khuyết tật. Song nhờ bà vợ mình và Uyên, mình mới có nhận thức đúng về những người bị tổn thương một phần cơ thể ... Chúng ta là những chuyên gia nghiên cứu xã hội học nên coi đó là hiện tượng để nghiên cứu, từ đó chúng ta đưa ra các giải pháp, giúp cho người khuyết tật có một cuộc sống tốt hơn.

    Ông Tùng hỏi giáo sư:

    - Thế có nghĩa là tác giả Cầu Thị là một người bị khuyết tật?

    Giáo sư Trân trở nên sôi nỏi:

    - Đúng vậy. Thế cậu có biết tác giả Cầu Thị là ai không ?

    Ông Tùng trả lời:

    - Mình không biết, chắc là người đó là một trong những trò cưng của cậu, có đúng không nào?

    Giáo sư Trân nói:

    - Tác giả đó không phải là là học trò của mình đâu, ước gì tác giả Cầu Thị được mọi ngưới chú ý tới, là con người thành đạt trong công việc, cũng như trong cuộc sống. Mình " bật mí" cho cậu biết, tác giả Cầu Thị chính là cháu Vọng, con của các bạn Thân và Uyên đấy.

    Ông Tùng ngạc nhiên:

    - Ồ, vậy sao ? Cậu đó là người khuyết tật bị ngớ ngẩn cơ mà ...

    Giáo sư Trân cắt lời ông Tùng:

    - Lúc đầu mình cũng tưởng là vậy, song được đọc các bài của cháu Vọng do vợ mình mượn từ Uyên về đưa cho mình đọc, qua những bài viết, mình thấy trong con người cháu là cả một tâm hồn, là những ước mơ, những ý tưởng sinh kế cho cộng đồng người đồng cảnh như cháu. Là một người làm công tác trong ngành khoa học xã hội, mình thấy cần chú ý những cái cháu đã viết ra, cần làm thay đổi suy nghĩ và xóa bỏ định kiến về người khuyết tật còn tồn tại trong xã hội. Đó không phải là nhiệm vụ của ngành xã hội học hay sao ? Nên mở lòng với những người khuyết tật như cháu Vọng, Tùng à ...

    Ông Tùng có vẻ ân hận nói:

    - Thật là hổ thẹn, trong khi cậu coi vấn đề người khuyết tật là nhiệm vụ của ngành xã hội học, thì tôi, một đồng nghiệp của cậu lại coi thường những người khuyết tật , cụ thể là cháu Vọng ...

    googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547019495164-0'); }); googletag.cmd.push(function() { googletag.display('div-gpt-ad-1547019585666-0'); });

    Từ lúc đến, Phương Anh ngồi nghe hai người bạn già nói chuyện một cách chăm chú, nghe nhắc đến Vọng, Phương Anh xin phép được nói lên suy nghĩ của mình:

    - Thưa hai ông, sau khi đọc xong hai cuốn sách, cháu cứ ngờ ngợ tác giả Cầu Thị chính là chú Vọng, cháu có trình bày sự nghi ngờ với ông cháu, nhưng ông cháu gạt đi ...

    Bà Tân mang phích nước vào phòng khách, nghe mọi người nhắc đến Vọng, bà liền kể:

    - Ông và cháu biết không ? Sau khi ông Trân nhà tôi đọc các bài của Vọng, hai bác cháu thân nhau lắm, ông ấy dặn cháu Vọng : " Khi nào cháu không đi sinh hoạt người khuyết tật thì cháu và mẹ sang đây ăn trưa với hai bác. Lúc đầu cháu còn ngại, nhưng ông Trân bảo " Cháu sang đây là để thông tin cho bác về hoạt động của người khuyết tật, còn bác có nhiệm vụ cập nhật về những thông tin đó." Nghe thấy ông Trân nói vậy, cháu Vọng mới chịu sang ...

    Đúng lúc ấy, bà Uyên xách cặp lồng thức ăn và Vọng xuất hiện ở cổng nhà giáo sư Trân. Khácvới mọi lần khi gặp Vọng, ông Tùng vội đứng dậy, ra mở cửa cổng và ôm chầm lấy Vọng, giọng nói của ông như nghẹn lại:

    - Con ơi, cho bác xin lỗi. Lẽ ra, con bị tật, bác phải đến với con từ lâu rồi mới đúng ...

    Thấy cảnh tượng như vậy, giáo sư Trân thực sự xúc động:

    - Ông cháu cậu ở lại dùng bữa với vợ chồng mình và mẹ con Uyên ...

    Ông Tùng trả lời:

    - Ông cháu mình sẽ ở lại, mình còn phải tâm sự với cháu Vọng...

    Thấy Phương Anh ngập ngưng, giáo sư Trân hiểu ý:

    - Có điều gì vậy, Phương Anh, cháu cứ nói đi?

    Phương Anh lễ phép đáp:

    - Dạ, hôm tới, khoa cháu tổ chức hội thảo khoa học sinh viên, chúng cháu biết ông là người giới thiệu các tác phẩm của tác giả Cầu Thị, chúng cháu muốn mời ông với tư cách là giáo sư và tác giả Cầu Thị đến dự cùng chúng cháu ạ.

    Ông Tùng nói thêm:

    - Cháu Phương Anh đang viết bài tham luận về hai tác phẩm của tác giả Cầu Thị đấy.

    Giáo sư Trân vui hẳn lên:

    - Thế thì hay quá, hôm đó ông và chú Vọng sẽ đến. Nào, mời mọi người vào đùng bữa.

    Ông Tùng đẩy chiếc xe lăn của Vọng vào bàn ăn cùng mọi người...

    Sau bữa ăn, mọi người thấy Phương Anh đẩy xe giúp Vọng đi dạo trong vườn nhà giáo sư Trân, cả hai đang hướng đến đàn chim bay lượn trong nắng chiều.

    Trọng Khoa

  • Dân bến phà

    Tụi nó để ý nhau lâu lắm và dự định vài tháng nữa sẽ tổ chức đám cưới nhưng khi biết thằng Nhân ở xóm bến phà thì trong nhà con Quyên bắt đầu xì xào, tiếng nói vô, tiếng bàn ra loạn xạ, đại để là chín người mười ý, không ai giống ai nhưng tựu trung là không bằng lòng.

    Mà ngộ thiệt, cái bến phà đó nó có còn tồn tại nữa đâu?

    Người ta xây cầu mất đất từ mấy năm nay, giờ xóm ấy như bao xóm khác, hổng chừng còn lặng lẽ hơn nhiều nơi, nhưng cái cụm từ ''Dân bến phà'' thì vẫn trơ trơ.

    Nói trắng ra, bao nhiêu tệ hại là dồn hết cho dân bến phà.

    Tại sao? ai biết tại sao?

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Như thằng Nhân, tuổi gần ba mươi, trắng trẻo chững chạc, con cô giáo, cả họ hàng ai cũng nức nở khen thằng nhỏ, còn nói là ''con Quyên tu tám kiếp mới gặp được thằng đàng hoàng như vậy'' nhưng chỉ sau ba mươi giây biết ra chỗ ở của Nhân là mọi nghĩ suy trước đây bỗng dưng đổi thay quay ngoắt, y như là ta vừa lật trở bàn tay.

    Cuối cùng con dâu nhà bà giáo Hiền không thể là ai khác hơn ngoài con bé Quyên xinh như búp bê.

    Nghiễm nhiên từ đây nàng thành cư dân chính hiệu xóm Cầu Bắc, nói nôm na là đã thành ''dân bến phà'' quỷ tha ma bắt, trai thì lưu manh, gái thì lựu đạn, đĩ điếm giang hồ.

    Sao kỳ vậy cà?

    Có thể nào dẹp đi cái nhìn không được hay ho của mọi người dành cho xóm mình không ta?

    Con Quyên không nói ra chứ thiệt lòng đang nghĩ suy mong ước dữ lắm.

    ....Xế xế chiều thôi là cái quán nhậu của chị Bảy bắt đầu đông khách, nói quán cho sang chứ kỳ thực là dăm bảy bộ bàn ghế thấp thấp được kê đầy trước sân cho xôm tụ và mồi màng chỉ là trứng vịt lộn, khô đủ loại, nướng lên thơm phức nhưng giá rất bình dân, có kèm dưa chua tương ớt, vậy là đủ gọi mời khách đến lai rai.

    Khách vãng lai không nhiều, toàn là thành phần rảnh rang trong xóm.

    Chú Tư Khai vừa bưng ly rượu kê lên miệng chưa kịp uống thì con Phượng ròm mặc bộ đồ ngắn cũn ngắn cỡn đi ngang, nó ốm nhom nhưng cái mông nó ngoảy qua ngoảy lại nhọn lểu làm Tư Khai nóng mắt.

    Ổng ực một phát hết nửa ly rượu kêu nghe cái trót rồi dằn mạnh cái ly xuống bàn giọng ồm ồm:

    - Con gái con đứa, mặc cái quần chi mà có một gang, mẹ bà nó, tưởng khoe cái gì ra coi cho đẹp, ai dè đưa cái đít lép xẹp, bắt chảo lên thắng một năm chưa ra được muỗng mỡ...

    Con Phượng đâu có vừa nó la léo nhéo:

    - Đồ thứ già mắc dịch, rảnh quá chọc cho thiên hạ chửi, ốm mập gì kệ cha người ta, nhậu vô hết chuyện nói, nói bậy coi chừng có ngày bị vả tét miệng.!

    - Mầy ngon đứng lại! mầy nói ai mắc dịch? đồ con nít ranh! mầy đòi vả miệng ai?

    Miệng con Phượng trề ra cả tấc, nó tỉnh bơ sấn lại:

    - Tui đi ngoài đường, tui nói vậy đó, tui có chọc ghẹo gì ông chưa mà ông chỏ mỏ vô chê khen? ông ngon, nói tiếng nữa là thấy cái cảnh....

    Chú Tư Khai giận run, đứng bật dậy, miệng lập bập:

    - Đồ mất dạy, đồ cô hồn sống.

    Con Phượng độp lại liền:

    - Còn đỡ hơn cái thứ già mà đi...dòm đít con gái.

    Không kềm chế nổi, Tư Khai chụp cái ly trên bàn phang đại vô con nhỏ vừa ròm vừa dữ, nhưng chú Sáu Hiến và Út Bình đã kịp chụp tay chú ngăn lại, út Bình can ra và nói ngọt cho con Phượng đi về:

    - Thôi bỏ đi bây, ổng cũng say rồi, về đi, tụi bây sao cũng chằn tinh quá...kệ ổng đi, ổng già còn hơn cha má mầy nữa, thôi về đi!

    Con Phượng te tái vừa đi vừa nói ''với với'':

    - Tại ổng chứ bộ, ở cái xóm nầy mà hổng chằn là mấy ông xỉn xỉn vô muốn nói trời nói đất hay muốn làm gì, ai biết sao cản được, tui nể chú Út nha chứ tui hổng sợ ai hết đó.

    Chuyện chỉ có vậy mà từ buổi tối đó cho đến sáng sớm hôm sau trong xóm rộ lên cái tin ông Tư Khai đi bóp đít con Phượng ròm, nguyên xóm chừng hai chục căn nhà chứ mấy mà náo loạn tưng bừng:

    - Tao nghe anh Sáu về nói lại rỏ ràng ông Tư chê con nhỏ Phượng lép xẹp nên mới đưa tay sờ thử ai dè nó chửi té tát...

    Vợ Sáu Hiến chưa kịp dứt lời thì cô Ba Vân xỉa liền:

    - Vậy là Bà cũng không thấy mà chỉ là nghe ổng kể lại? mà nghe kiểu gì sao kể không đâu vô đâu? Cái gì lép xẹp? sờ thử? sờ chỗ nào? trời ơi...hổng nghe hổng biết thì thôi, chứ nghe kiểu vầy tức muốn ói máu.

    Chị Bé chủ quán hủ tiếu vừa hất vắt mì vừa trụng vô tô vừa tía lia:

    - Ôi! anh Tư ảnh vắng vợ lâu thì ''bốc hốt'' bậy chút chơi chứ có quan trọng gì đâu mà sáng giờ ai cũng rần rần, nghe mệt thiệt chứ.

    Út Bình rề cái xe tấp vô:

    - Bốc hốt hồi nào, tui nhậu chiều qua với ổng đây, con nhỏ đi ngang ổng ngó theo tính mở miệng ghẹo chọc chơi, chưa gì thì sanh chuyện, con nhỏ dữ bà cố luôn, giờ thêm miệng của mấy bà nữa, ai nghe mà hổng sợ cái xóm nầy tui mới...sợ á!

    - Chú Út binh chú Tư Khai chứ gì, tối con Phượng nó kể hết sạch rồi, chính miệng nó nói Ổng già mà sàm sỡ phát ớn, phải kể thôi, chứ nếu không mai mốt ai biết đường mà tránh.

    Chị Tám Đúng ngồi ăn cuối quán nói vọng lên.

    Thằng Trí đi làm ca đêm về tính ghé vô ăn tô hủ tiếu nhưng nghe người ta rùm beng chuyện cha mình, nó nép vô quán ca phê sát bên nghe ngóng rồi lầm lì vác cái mặt nặng như chì xộc vô nhà, lôi ông Tư dậy rồi hỏi xẳng lè:

    - Hồi chiều qua Cha làm gì con Phượng mà xóm làng họ la rần rần kia kìa?

    Ông Tư chưng hửng:

    - Tao có làm gì nó đâu nà...

    Ông nheo nheo đôi mắt chưa kịp tỉnh hẳn ráng suy nghĩ coi bữa nay thằng Trí làm cái giống gì mà mặt mày quạu đeo, nói năng cộc lốc, kỳ cục vậy cà?

    - Hổng làm gì mà họ đồn rùm, con hết biết Cha luôn, già mà để người ta cười mình, nhục thúi đầu.

    - Mầy im hôn? tao nói không có là không, đứa nào hỗn tao đập chết mẹ.

    - Không có, sao họ chỉ ngay Cha, thiếu gì người họ không nói mà nói đích danh nhà mình.

    - Dẹp! mầy tin tao hay tin đám đàn bà nhiều chuyện xóm nầy? đừng chọc nóng tao nghe! Tao nói lại lần nữa không là không! Riết rồi con cái có đi học đi làm mà ngu như cái dân đứng b..ế..n....

    Ông bỏ lửng câu nói, đôi mắt sụp xuống tối sầm.

    Thằng Trí cũng lẳng lặng bỏ xuống nhà sau, nó mệt mỏi sau một đêm miệt mài làm dưới khu công nghiệp.

    Gì chứ nó biết trên đời nầy cha nó thương nó nhứt và ổng cũng không phải là người xấu xa tệ hại.

    Xấu sao được khi một tay ổng chăm bẵm nuôi nấng lo toan cho nó hơn hai chục năm nay.

    Má nó bỏ đi hồi nó chưa đầy ba tuổi, nó còn biết cha nó không hề oán hận người vợ bạc tình bạc nghĩa, nó còn biết đêm ngày ổng lơ ngơ lóng ngóng chỉ mong một điều không thể nào có được dẩu có khi hàng xóm hét chửi ai đó tương tự khốn nạn như má nó thì ổng cũng rùm beng phóng góp theo lời tục tằn.

    Cái xóm nó vậy đó mà.

    Chuyện Tư Khai sàm sỡ con Phượng chưa kịp lắng xuống thì cả xóm bật ngữa khi nghe tin Bà Hai Khởi đi cậy người viết đơn thưa kiện thằng em chồng cái vụ tranh chấp nhà cửa gây xích mích nghiêm trọng.

    Cái chuyện tranh chấp nhà cửa thì không lạ gì vào thời buổi nầy, nhưng Bà Hai Khởi năm nay hơn bảy mươi mà có ''bồ'' rồi sanh chuyện thưa gởi mới là đề tài để cả xóm nhỏ to xì xào.

    Thiệt ra Bà Hai quê xứ Gò Công, thôi chồng có ba bốn đứa con rồi mới gặp Ông Hai Khởi, ông nầy vợ chết lâu rồi nên rổ rá cạp lại, hai người sống yên lành hơn mười mấy năm qua.

    Ông Bà được người ta cho vô vườn róc lá dừa, bó lại thành bó rồi bỏ mối cho mấy lò đường gần đó.

    Trước khi có vụ nhà nhà xài ga thì ông bà chở lá qua phà bán lẻ cho người ta chụm nấu, chỉ vậy thôi, mà nghe đồn sắm được... vàng lượng để dành phòng thân.

    Lớn tuổi ăn uống đâu có bao nhiêu nên của hổng vốn (dù ''của'' chỉ là thứ người ta bỏ đi) đủ làm ông bà không phải lo no, lo đói mà cứ tà tà qua ngày, không giàu bằng ai chứ cũng chưa ai trong xóm thảnh thơi như hai ông bà.

    Nhưng đời không ai lường trước được điều gì, nhà có hai người mà mấy khoẻn vàng ky ca ky cỏm bao năm nay bỗng biến mất trong tích tắc.

    Ông là đàn ông mà lúc nào cũng kè kè cái ''của chìm'' đeo niệt bên người, nay quỷ thần nào xui giục, mà ông quên để hở nó ra, khi đi tắm nên lúc trở vô túi vàng không cánh mà bay.

    Ông đổ cho bà lấy, bà đổ cho ông là người lòng lang dạ sói, bao năm bà không động tay vào, nay can cớ chi mà phải ăn cắp, mà dẩu có tham lam thì lấy được rồi biết giấu đi đâu? biết xài vô cái ngã nào?

    - Một lũ con bốn đứa nó xúi bà chớ ai?

    - Tui không là con thú như ông nên không nghĩ ra cái điều khốn nạn đó.

    - Thú nè! ăn trộm nè! ăn cắp nè! muốn tan tành tao cho tan tành!

    Và một trận ẩu đả bằng miệng mồm lẩn tay chân chưa từng thấy trong lịch sử của các cặp vợ chồng già nổ ra tưng bừng.

    Ông dứt khoát bỏ về Hậu Giang ở với đứa con riêng duy nhất của ông, và bà mặc nhiên chiếm lỉnh căn nhà nằm sâu tuốt cuối xóm.

    Và ngộ thiệt, đàn ông, đàn bà kể cả gần đứt hơi mà không đủ đôi đủ cặp thì cũng như bông như hoa mới nở hay sắp tàn, dù nở ở hang hốc hay kẹt đá cũng có bướm ong dập dìu săm soi, lượn đáp.

    ...Ông già có chiếc xe đạp điện đỏ chạy chầm chậm vô xóm, thằng Lâm chuột thấy trước tiên, nó chuyên môn canh ''cớm'' cho tụi đá gà độ, nên con mắt nhà nghề của nó dể gì tha, nó quét mắt một cái rồi hỏi khơi khơi:

    - Kiếm nhà Bà Hai ''khỏ'' hả ông già? giờ nầy dễ gì gặp, cho vài điếu thuốc rồi tui kêu bả dùm cho, giờ mà ông tới ngay trước cửa kêu có bả- tui cùi.

    Ông già nhìn nó rồi rà chân từ từ cho cái xe ngừng hẳn, ổng mở miệng lều phều:

    - ''Qua'' không hút thuốc lâu rồi chú em, vậy chứ cô hai đi chợ hay đi đâu mà không có nhà em?

    - Bả mà chợ búa gì, ngày có gói mì là ăn trối chết, có khi quên ăn luôn, bả ''múa quạt'' đằng kia cà, ông giỏi thì đi mà kiếm.

    Nó kiếm chuyện vậy thôi chứ Bà Hai đã hẹn hò ổng sẳn, nên chờ đằng nhà từ hồi sớm, ổng chạy cái réc tới trước nhà là có bả chờ sẳn đón tiếp rồi.

    Không chờ đến ổng về, thằng Lâm rống từ đầu ngỏ:

    - Bà Hai nầy coi vậy mà là ''hàng độc'', ôi trời từ thuở giờ mới thấy già mà có ''ghệ''..

    - Trời! thiệt hôn mậy? bả già vậy làm gì có chuyện đó, mày độc mồm độc miệng thì có.

    - Láo, Bà bắn! tui mới nói chuyện với ông đó nảy giờ nè, ổng ở xóm trên chớ đâu, bà lên miệt An Thượng hỏi ông Hai Rocket, ai cũng biết, ổng giàu lắm.

    Thằng Lâm chuột ghét vì không moi được điếu thuốc nào nên nó chế thêm tỉnh bơ, còn giả bộ thề thốt Bà bắn!( Bà nào bắn nổi nó với lại ai có tên kỳ cục vậy, mà thằng nầy nó đặt cái...chết danh ông già luôn).

    Vậy là cái tin bà Hai có ''bồ'' lan nhanh, không những đầu làng cuối ngõ ai cũng hay mà thằng em út của Hai Khởi ở tuốt bên chợ cũng bị điếc tai vì cái sự việc giật gân đó.

    Một đồn trăm, trăm đồn thiên, thiên đồn vạn, ai làm sao bưng bít được mấy cái miệng rảnh rang của xóm bến phà.

    Lâu ngày nhịn không nổi nên thằng em chồng bực bội gõ cửa nhà bà chị dâu và dằn từng tiếng rành rọt:

    - Tui là nể tình anh tui dữ lắm nên làm thinh cho chị ở đây tới cuối đời, ai dè chị làm cái gì ''sống nhăn'' vậy chị Hai?

    Chị quên đất, nhà nầy hồi đó tui cho anh chị ở đậu sao?

    Giờ một là chị trả tui, hai là tui thấy cái thằng cha Rốc- ca, Rốc-két gì đó léng phéng tới đất tui, tui quýnh bỏ mạng? chị làm sao coi cho được thì làm!

    - Tui làm gì mà Chú ''ong óng'' cái miệng lên vậy? tui thách chú đó!

    Đất thì của chú thiệt, tui không giành, nhưng hồi đó chú cho vợ chồng tui cất nhà, nó là cái vũng lạng nhỏ như bàn tay.

    Con tui với tui chèo ghe ra sông móc đất về đắp nền, dựng nhà, thằng anh chú nó không rớ được tới một cọng lạt. đừng nói làm ra trò trống gì.

    Không có tui nai cái lưng trâu nầy ra mang gánh, ổng sung sướng được như giờ hôn? mà thôi, tui với anh chú hết nợ hết nần, chú đừng đá động gì tới tui nữa, vậy đủ rồi, tui cám ơn!

    - Chị già nói gì ra, ráng làm ơn để em út nó nể, ăn nói ngang phè mà còn thách với thức, hông lẻ nói chị dốt mà còn làm tàng thì cho chị ra mình không, khỏi thách, ai đời ở nhờ ở đậu không có miếng giấy lận lưng mà còn kình với chống...

    - Không đền đủ một trăm triệu tiền công mẹ con tao gánh đất, làm nhà, đố cha thằng nào xeo tao ra khỏi nhà tao.

    Thằng em chồng bỏ về không quên quăng lại cái cười khinh bỉ kèm theo tiếng nghiến rít:

    - Thằng nầy mà ra tay, cỡ bà không còn cái quần mà che mặt, chống mắt lên rồi...biết!

    Thằng em chồng về một buổi rồi, bà Hai vẫn còn ngồi bần thần, nó nói không có trật một chỗ nào, phen nầy mình phải làm sao? phải đi thưa nó trước mới được, nếu không....

    Nói cho sướng cái miệng xong bà mới giật mình.

    Cả cái xóm nầy nói năng văng mạng, ngang phè thì không ai bằng chứ còn thưa gởi biết đường nào mà viết đơn.

    Bà loay hoay, bà tính nát nước, bà nghĩ suy lung lắm....

    À...mắt bà sáng rỡ, chỉ còn một cách là nhờ con Quyên vợ thằng Nhân thôi, từ lúc về xóm nầy tới giờ ai cũng thương nó, con nhỏ hiền khô, già cả như bà nhờ một tiếng, nó sao nỡ chối từ, không giúp đỡ?

    Nghĩ là làm liền, mua chút quà gì chứ?

    Bà lần tới cục gạch sát cạnh bếp, khom người xuống một chút., thò tay quơ quơ nhấc viên gạch ra.

    Bà tá hỏa.

    Trống trơn, trống phộc, bà trợn trừng...bà giảy đành đạch, bà la làng chỏi lỏi...

    Nhưng dù có la khóc đến khản cổ, có kể lể, lê lết đến lả người, có bỏ cơm bỏ nước đến thân xác rã rời thì cái gì đã mất đi vĩnh viễn không tìm lại được.

    Có người chép miệng ''Của Thiên Trả Địa'', có người xót xa cho ''mối tình'' chớp nhoáng như ''xi-nê-ma'', có người đoán già đoán non nhiều khi ông chồng sau trận cải vã bữa đó đã vớ được món hời nên lẳng lặng bỏ đi, có người nói bà nầy để dành tiền cả đời đem chôn ở đâu, giờ già nên lú lẩn kiếm không ra chứ tiền vàng không lẻ có chân mà chạy từ chỗ nầy sang chỗ nọ.

    Tất cả nhốn nháo nhưng thảy đều không có câu trả lời xác đáng.

    Bà Hai trở nên lăng câm chỉ biết là bà bị mất cái gì đó, mà theo ý nghĩ bà thì còn lớn hơn cả sinh mệnh mình nên bà mới trở thành cái xác không hồn như vậy.

    Bà không mở miệng xởi lởi thêm một lần nào nữa và bằng lòng bó người trong nhà như một sự tự trừng phạt hay tự nghiền ngẫm thói người thói đời.

    Ông Rốc-két cũng lạ, không còn thấy một lần léo hánh.

    Thằng em chồng không hề đá động gì chuyện đất đai chủ quyền, nghe đâu nó ráo riết lôi kéo bắt ông Hai Khởi phải về nhưng ổng bặt tăm.

    Thằng Lâm chuột luồn tuôn sáng ghé, chiều ghé.

    Ngoài miệng thì nó nói coi chừng để lỡ bả ''đi'' không ai hay, kỳ thực nó đổ gạo cho bà nấu cơm, gạo nó ''trấn lột'' ai đó cũng không hiểu nổi.

    Người trong xóm cười nó vì dạo nầy ngồi không, nó ưa mở miệng triết lý kiểu như ''Vợ chồng dù chỉ một ngày cũng chớ có nên ba xạo, nếu không sẽ.. ôm hận ngàn thu'' hay ''Bảy mươi chưa gọi là lành,'' cao hứng lên nó còn hát om xòm ''Sống trên đời nầy người giàu sang cũng như người nghèo khó''...

    Nhưng ''cũng như'' sao được, giàu ở đâu không thấy chứ nghèo ở đây thì lóc nhóc.

    ...Mấy ngày nay mưa gió bão bùng, mới chừng ba giờ chiều cả xóm một phen hú vía vì nhà chú Chín Thà bị hai thằng ''xã hội đen'' đến đập phá điên cuồng.

    Nói đập phá vậy chứ trong nhà chỉ có cái bàn cũ xì thấp thấp bằng nhựa là ngay tầm tay hai thằng mất dạy đó.

    Một thằng giựt lấy quăng cái rốp ra đường, còn một thằng lôi xềnh xệch con Phượng, nó xô con nhỏ chúi nhủi ra giữa đám đông đang rần rần kéo lại bu đen bu đỏ.

    - ĐM, cỡ mầy bây lớn đây thì cái gan mầy bự bao nhiêu mà dám trốn không trả tiền cho tụi tao hả mậy? cho mầy nói một tiếng đó, mầy biết bữa nay là vốn lời tổng cộng bao nhiêu chưa?

    - ĐM, tao ghét nhất là bắt máy kêu mà nín thinh im re (thằng kia hùng hổ xấn tới) tao đập bể nát cái điện thoại rồi đó, cộng vô tiền mầy thiếu cho bỏ tật trốn không nghe máy.

    Con Phượng ngày thường hung dữ đâu không biết chứ giờ mặt mày nó tái le tái lét, nó run rẩy ngồi co rúm dưới đất, hai tay ôm đầu kiểu như nửa che mặt, nửa tránh đòn.

    Chú chín Thà chống cây nạng lập cập quýnh quáng năn nỉ hứa trả nợ cho con.

    - Hứa, hứa hoài, chân cẳng ông chừng nào mới tháo bột, gảy mẹ chân nó rồi ai mướn ông làm nữa mà hứa có tiền trả? con nầy hồi mượn tiền mầy hứa góp ngon lành quá, giờ giỡn mặt với tao hả? cái mạng mầy chưa đủ cái tiền nợ nha con!..chừng nào trả?(nó nhào lại thị uy).

    Đám đông nhốn nháo, ai đó hét lên:

    - Người ta thiếu từ từ người ta trả, ai giựt được với tụi bây, làm gì mà muốn ăn tươi nuốt sống con nhỏ vậy? giết nó giờ cũng không có môt cắc, dám giết hôn?

    - ĐM, thằng nào nói? ngon ra đây, không có tiền thì im hết mẹ tụi bây đi! chuyện tao, tao xử. Con quỷ kia, mầy có miệng hôn hay câm rồi?

    Chú Tư Khai nhảy vô:

    - Nó thiếu mấy chú bao nhiêu?

    - Mười triệu. Tao nói một lần chót, giờ có nhiêu đưa nhiêu, đúng một tuần sau tao quay lại, không có thì kiếm đường mà chết trước, chứ là tao xé banh xác, ngon- dám lèng èng với tụi tao, chưa biêt trời cao hả con?

    Con Phượng khóc thảm thiết, nó nói đứt quảng:

    - Con mượn có hai triệu rưởi hà!

    Đám đông rần ì chửi lén cái quân bất nhơn, quân giết người, quân ăn lời dã man.

    Nó nắm cổ áo con nhỏ lôi dậy.

    - Giờ mầy đưa bao nhiêu? nói!

    Chú Tư níu con Phượng can ra, nhưng không gạt nổi cánh tay của thằng hung hãn.

    - ĐM, thằng nào có tiền bỏ ra trả, còn không thì biến, nhào vô lộn xộn, tao quất chết mẹ.

    Chú Tư làm sao cự được với hai thằng đầu gấu, chú ỉu xìu bất lực ngó con Phượng.

    - Buông con nhỏ ra!

    Ngơ ngác, rồi đám đông nhao nhao mừng quýnh...

    - Mầy ngon, bỏ tiền cái rụp ra rồi muốn nói gì nói.

    - Tao nói buông con nhỏ ra!

    -Tiền?

    -Bao nhiêu?

    - Mười triệu.

    -Mầy thiếu nó bao nhiêu Phượng?

    - Dạ...hai triệu rưởi.

    - Sao ăn lời cắt cổ vậy? mầy ở đâu tới đây?

    - ĐM, hỏi cái mặt lì của nó kìa, góp xách hơn nửa năm rồi trốn mất. Còn tám tháng, mỗi tháng ba chục phần trăm, giỏi,tính đi!

    - Tính cái l...con mẹ mầy! Dòm cho kỹ mặt tao! Con Trang bến phà đây! dân ở đâu thì về đó. Tao trả ba triệu! biến!

    Và nó cầm ba triệu đưa ra kênh thẳng ngay mặt thằng đầu gấu.

    ....

    - Mọe! chê không lấy thì cũng biến luôn, nó góp cho mầy sáu tháng là dư vốn dư lời rồi, mầy dân xứ nào, cần tao tới đó quậy banh chành hôn?

    Thằng kia nháy mắt cho thằng nọ lấy tiền rút êm, cả nhà con Phượng thiếu điều quỳ lạy cám ơn con Trang.

    - Mầy mượn tiền chổ Bờ Ổi hả? mượn đặng sắm quần sắm áo ''quạ diều'' ở quán cà phê chứ gì? Quán nó trả mầy bao nhiêu một tháng?

    - Con làm lương triệu tám.

    - Xài cho dữ rồi mượn nợ tè le, dám mượn dân cô hồn, tụi mầy mới nứt mắt ra ''chưa thấy quan tài chưa đổ lệ'', dòm ba má mầy cà..

    - Con nhỏ nầy nó gan dữ trời chị Trang ơi, sao hồi đó mầy không hỏi chị Trang, phải đỡ khổ hôn (thằng Lâm chuột xen vô) ai dè con Phượng thiệt thà trả lời:

    - Cô Trang dữ gần chết, ai dám hỏi.

    - Cho vay mà hiền đặng tuột quần hả? mầy thấy ai cho vay mà khùng vậy chưa? giờ một tháng mầy trả tao ba trăm, còn triệu rưởi ráng chừa ra phụ ba má mầy, trả cho tao đủ một năm, mầy làm hổng xong tao cắt cổ, để khỏi sống ương ương mất công chật đất.

    Thằng Trí nảy giờ chen đâu trong đám lổn nhổn giờ bước ra nói nhỏ nhỏ:

    - Để con trả cho Cô mỗi tháng năm trăm, chú Chín biết chừng nào mới làm lại nổi, cho con Phượng năm nay ráng mần để có tiền phụ ba má nó.

    Chú Tư Khai với cả xóm ngó thằng Trí...đứng hình.

    - Ha..ha..ha, anh khéo dạy thằng nhỏ há anh Tư, mầy ngon lành đó Trí, Cô không tính lời, tháng nào kẹt quá thì thôi, miển sao trả đủ ba triệu, mầy hứa là chắc ăn như bắp...chừng nào tính cưới nó đây mậy?

    Nó lủi mất tiêu, đám đông tản hết ra, mấy ông tụ lại nhà Chín Thà, ngồi bệt dưới đất châm trà...thời sự (có cái bàn bị quăng bể nát còn đâu).

    Tối bữa đó cha con thằng Trí rầm rì tới khuya, chú Tư nói ''mầy lớn thiệt rồi, biết lo biết nghĩ tao mừng. Giờ tao đi kiếm má mầy'',

    - Má không về được thì là má không muốn, Cha đi kiếm làm chi?

    - Nhiều khi má mầy mặc cảm hay vì cái gì đó, mình không kiếm, không hỏi sao biết được.

    - Biết ở đâu mà kiếm cha ơi, rồi tiền đâu cha đi hoài, mà lỡ như cha có thấy má xẹt ngang, làm sao Cha nhận ra?

    - Thằng nầy khờ... có ai nhìn mà không biết vợ mình, mà thôi để tao đi một chuyến...

    - Cha mới...khờ, đi kiếm kiểu như Cha biết bao giờ mà gặp Cha ơi.

    Trong đêm, thằng Trí đâu thể nào nhìn thấy hai con mắt của cha nó sâu hun hút buồn hiu hắt.

    Vậy là chuyện ''Tư Khai đi kiếm vợ'' thành đề tài cho cái xóm nầy biêu riếu bàn tán.

    - Cha nầy khùng hay sao, vợ bỏ đi hai chục năm mà đi kiếm, chắc trên đời nầy hết đàn bà.

    Chị Bé hủ tiếu tấm tắc:

    - Vậy mới là đàn ông chung thủy, đời nầy dễ gì kiếm ra đàn ông như anh Tư? có ai làm được như ổng hôn?

    Chị Bảy bán khô nạt ngang:

    - Chung thủy cái con khỉ, chả làm tui mất mối ngang xương, chiều nào chả cũng lai rai, có chả là tụi nó kéo lại rần rần, thiệt là ''chả'' nghĩ kiểu gì mà đi kiếm kiểu trớt he vậy cà?

    - Trớt đâu mà trớt, biết đâu...

    Tiếng ai đó xen vô phụ họa.

    Má Năm hối chị Bé nấu hai tô đem về nhà lẹ lẹ:

    - Mầy lo nấu cho khách trong quán, không nấu riết cho tao về, đi mà lâu cha nội nhà tao kiếm chuyện um sùm, phải ổng được như phân nửa Tư Kha tao cũng lạy mà hầu.

    Cô năm Hiếu lật bật đẩy xe bắp nấu vừa đi vừa sụp cái nón lá che con mắt đỏ hoe. Ai mà tinh ý hỏi sao vừa đi vừa khóc biết nói đàng nào cho khỏi ''lòi chành''?

    Nhớ hồi thằng Trí mới lớp một, lớp hai cô ưa nhét mấy trái bắp mập ú, hột đều trân, cho nó cạp đỡ đói vì Chú Tư Kha chạy xe chở khách chưa kịp về.

    Lâu lâu có ông nào dòm ngó thì cô lãng tránh, đổ thừa còn phải nuôi má, nuôi em chứ thiệt ra cô thương đứt ruột hình ảnh anh Tư tẳn mẳn dụ thằng nhỏ ngồi yên, anh cắt cho sạch mấy bộ móng tay móng chân.

    Cô vừa giận mình vừa thương mình sao mắc gì phải đợi chờ, phải vấn vương cái người mà suốt bao nhiêu năm tâm tư cứ gởi theo con vợ bạc nghĩa bạc tình.

    Cô lầm thầm ước gì ''ảnh đi cho chán rồi cũng trở về lủi thủi một mình với thằng Trí cho coi''.

    Ừ.. vậy đi, cô cứ lan man, cứ nghĩ suy..chiếc xe nghiêng qua, nghiêng lại.

    Cô đi như chạy mặc ai đang xì xào:

    - Dân bến phà kỳ cục ghê, bán bắp mà không sợ ế, người ta kêu mua rát họng vậy chứ đẩy đi hoài, bà nầy chắc...ma nhập chứ bán buôn gì....

    Nắng lên đọng trên đôi mắt cô những giọt ngân ngấn lung linh...dân bến phà không giống ai hết trơn....! Sao kỳ vậy ta??

    Đinh Lan.

  • Người trên cao nguyên

    Chiếc xe khách rời thành phố Hà Nội. Lại một lần nữa Vũ Hùng khoác ba lô trở lại Lâm Đồng, nơi có mặt những người lính xây dựng vùng kinh tế mới.

    Những năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các tỉnh thành lần lượt đưa dân đi xây dựng kinh tế mới. Đó là những vùng dân cư thưa thớt, đất đai rộng rãi có tiềm năng phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước lâu dài.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Ba tháng trước, Vũ Hùng nhận được thư của bố, tiếp đến thư Cẩm Duyên. Trong thư, Cẩm Duyên tỏ thái độ không đồng tình việc bố đưa vợ chồng anh đi kinh tế mới. "Anh xem, xã mình thiếu gì người đi. Gia đình ta lại thuộc diện "ưu tiên" ở lại thành phố. Ông nội là bộ đội chống Pháp, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Bố, trước đây là đại úy công an nhân dân vũ trang, bây giờ là Bí thư Đảng ủy xã. Còn anh, trung úy, thương binh ¾, đã có những năm chiến đấu và công tác ở tỉnh Lâm Đồng". Vũ Hùng hiểu và cảm thông cho vợ. Chính anh cũng hơi bất ngờ khi bố đưa vợ chồng anh vào danh sách những hộ đi kinh tế mới đợt hai tỉnh Lâm Đồng. Nỗi băn khoăn lo lắng của Cẩm Duyên không phải không có cơ sở. Đã có một số gia đình đi xây dựng vùng kinh tế mới ở các tỉnh Đăck Lắc, Đồng Nai, Sông Bé bỏ về vì không trụ nổi bệnh sốt rét. Mặc dầu đến đó Nhà nước tạo điều kiện đất canh tác, hỗ trợ lương thực ăn trong sáu tháng đầu.

    Cẩm Duyên là con gái duy nhất của một gia đình khá giả buôn bán ở ngoại thành Hà Nội. Vũ Hùng quen biết cô trong những năm sinh viên đại học. Cô được hưởng cuộc sống đủ đầy sung túc, được nuông chiều từ nhỏ cho đến khi trưởng thành. Tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm, Cẩm Duyên ra trường về dạy ở xã nhà.

    Tốt nghiệp Đại học kinh tế Hà Nội, đầu năm 1974 Vũ Hùng trúng tuyển nghĩa vụ quân sự. Sau ba tháng huấn luyện, anh được điều về Trung đoàn 12, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Là lính bộ binh, Vũ Hùng có mặt trong nhiều đợt chặn đánh địch trên tuyến đường 20, đèo Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng. Anh bị thương ở vai, điều trị vừa xong, Vũ Hùng tiếp tục chiến đấu, cùng đơn vị giải phóng thành phố Đà Lạt và các căn cứ, đồn bốt khác của địch trên địa phận tỉnh Lâm Đồng. Đơn vị anh hành quân thần tốc đánh xuống Xuân Lộc, đập tan cửa ngõ phía bắc của sào huyệt ngụy quyền. Vũ Hùng có mặt trong thời khắc lịch sử 30 tháng 4 năm 1975 ở Sài Gòn.

    ***

    Cơn mưa bất chợt kéo đến. Vũ Hùng bước ra ngoài. Một vùng đất rộng bao la trải dài trước mắt anh. Những ngọn gió cao nguyên rười rượi thổi, trong anh một cảm giác lâng lâng dâng tràn. Chính nơi đây chín năm trước, Long người bạn thân học chung lớp với anh trong bốn năm đại học và đi lính một ngày nằm xuống vùng đất này, trong trận đánh với Tiểu đoàn dù ngụy. Bọn địch hành quân từ căn cứ Dầu Dây lên có cả xe bọc thép, máy bay trực thăng yểm trợ. Trận quyết chiến xảy ra từ năm giờ sáng đến bốn giờ chiều. Ta tiêu diệt hai đại đội địch, bắn cháy năm xe bọc thép. Bên ta hy sinh ngót ngét gần hai trung đội, trong đó có Long, quê huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Long là xạ thủ B40, từ công sự anh nhoài người lên nhắm vào chiếc xe bọc thép địch đang lù lù tới. Bất ngờ một quả đạn pháo nổ kế bên, Long bị thương ở ngực, máu thấm mảng áo. Địch điều thêm Tiểu đoàn thủy quân lục chiến và máy bay phản lực dội bom xuống đội hình ta. Một quả bom nổ tung cạnh chỗ Long nằm. Đơn vị Vũ Hùng được lệnh rút. Sau này anh cùng đồng đội quay lại tìm Long nhưng không thấy.

    Cuối năm 1975, Vũ Hùng về Bắc Giang tìm đến nhà Long. Long chỉ còn người mẹ và hai cô em gái. Bố anh hy sinh trong những năm đầu đánh Mỹ. Vũ Hùng đặt ba lô xuống, anh thuật lại toàn bộ trận đánh mà Long đã hy sinh anh dũng. Người mẹ lấy tay quệt nước mắt, bà đứng dậy treo ba lô con cạnh chiếc ba lô của chồng.

    - Con đốt nhang cho thằng Long. Đốt hai cây chung với bố nó.

    Vũ Hùng lòng thắt lại, nhìn hai chiếc ba lô trong có hai bộ áo quần lính. Hai thế hệ đánh Mỹ, cha và con nằm lại chiến trường. Nhập ngũ năm 1974, tham gia năm trận đánh. Trận đánh thứ sáu tại km 139 Quốc lộ 20, cuối tháng hai năm 1975 Long hy sinh.

    Từ giã mẹ và hai em gái Long, Vũ Hùng trở lại đơn vị. Trước khi có quyết định phục viên, anh nhận được thư của bố. Đại để trong thư bố anh đề nghị khi anh về thì tham gia công tác địa phương và ông cũng đã "liệt kê" con trai thuộc danh sách cán bộ chủ chốt đi xây dựng kinh tế mới. Vũ Hùng chấp thuận, đây là điều kiện để anh trở lại Lâm Đồng thực hiện nguyện vọng của mình. Anh thầm hứa sẽ cùng bố, Thu Loan và mọi người quyết tâm xây dựng quê hương mới giàu đẹp, vững vàng trên cao nguyên nơi Long và đồng đội ngã xuống. Và từ đây, trên vùng quê mới, Vũ Hùng hy vọng sẽ tìm gặp Long thằng bạn thân vui tính nhưng lại nhát gái. Tấm ảnh Long và anh chụp chung khi bước vào lính, Vũ Hùng còn giữ, anh phóng to treo ở nhà mình.

    ***

    Tháng bảy dính mấy cơn mưa lớn, đường đất sụt sùi nước. Đêm ri ri tiếng bò toọc, ểnh ương kêu nghe đến nao lòng. Ánh đèn dầu từ những nhà dân hắt vào không gian tĩnh mịch, vài chiếc đèn măng song sáng xanh vùng đồi giữ được phần nào nỗi ấm áp trên miền quê mới. Lại thêm mấy gia đình bỏ về Hà Nội. Đáng buồn hơn trong số đó có một đảng viên và một giáo viên. Vũ Hùng thất vọng xót xa, như chính anh là người có lỗi.

    Cẩm Duyên bỏ về thành phố Hà Nội trong lần Vũ Hùng đi công tác. Đã mấy lần Cẩm Duyên khuyên anh nên bỏ tất cả, quay về Hà Nội:

    - Về Thủ đô, việc làm, nhà cửa sẽ có bố mẹ em lo hết. Anh không phải bận tâm. Nếu không đi dạy, em sẽ buôn bán cùng mẹ. Chúng ta vẫn sống đàng hoàng mà!.

    Vũ Hùng thấy cay cay ở sống mũi, anh đỏ mặt nhìn vào mắt vợ trả lời:

    - Anh là đảng viên, là bộ đội Cụ Hồ. Chạy trốn thì ra thể thống gì? Bao nhiêu người chịu đựng được. Em là giáo viên, sao không nhìn vào đó để mà nêu gương.

    Cẩm Duyên sụt sùi:

    - Anh chả có biết thương mẹ con em. Bám gì cái vùng đất này. Anh không mở to mắt ra nhìn họ sốt rét đầy đó sao? Anh muốn giết con bé à?

    Nói rồi Cẩm Duyên bỏ ra sau nhà ngồi khóc một mình.

    ***

    - Trạm xá xã không đủ giường để bệnh nhân nằm anh ạ. Hôm qua có thêm mấy người sốt rét ở thôn trên chuyển đến. - Thu Loan, Bí thư xã đoàn nói với Vũ Hùng.

    - Bên Xã đoàn em cố gắng sắp xếp nói anh chị em phụ giúp dân. Số gia đình có người bệnh, tuyên truyền động viên họ vượt qua thử thách. Dân thành phố vào đây mới đầu còn lạ nước lạ cái. Hồi anh đi lính cũng vậy, vào đây mấy tháng đầu sốt liên tục. Thời gian đầu không tránh khỏi khó khăn trước mắt. Anh tin mình sẽ chiến thắng. Đất nước còn nghèo, hậu quả chiến tranh để lại không chỉ một tháng, một năm, vài năm hàn gắn hết. Ta khuyên nhủ bà con ổn định, bám đất, bám làng, để tăng gia, chăn nuôi, cải thiện đời sống. Khó khăn chỉ là tạm thời.

    Thu Loan ý tứ nhìn Vũ Hùng, cô gái hai mươi tư tuổi chưa chồng giấu điều gì đó như muốn nói với anh.

    - Chị Cẩm Duyên và bé Cẩm Tú đâu anh? Mấy ngày nay em không thấy.

    Nghe Thu Loan hỏi, Vũ Hùng im lặng. Anh ngờ đâu rời tay súng trở về, mọi việc trở nên phức tạp. Chuyện gia đình ở vùng quê mới cứ rối tung. Áp lực từ phía Cẩm Duyên và gia đình cô ấy cứ một hai bảo hai vợ chồng bỏ hết về Hà Nội sống. Rồi chuyện nàng dâu không đồng tình với bố chồng chọn con trai mình đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Lâm Đồng. Mọi công việc ở xã dù khó khăn thách thức đến mấy cũng lần vượt qua. Vũ Hùng thầm cảm ơn Thu Loan, cô gái Bí thư đoàn xã đẹp người đẹp nết. Trong giai đoạn đầu Thu Loan luôn sát cánh anh. Hình như trong công việc có cả tình yêu thương chia sẻ và trân trọng. Hễ có thời gian rãnh là cô đạp xe qua nhà Vũ Hùng. Thu Loan dọn dẹp bắc cho anh ấm nước sôi. Dẫu sao nhà vẫn có hơi ấm của lửa khói và bóng dáng phụ nữ đỡ hiu hắt hơn.

    Thời gian đầu khó khăn không lường hết. Một số gia đình cho rằng bố Vũ Hùng đưa dân đến vùng đất "chết". Vừa rồi, có hai thanh niên bị sốt ác tính qua đời, do theo các nhóm thợ rừng và đào vàng.

    Thu Loan chưa biết chuyện gia đình anh. Cẩm Duyên mang theo con nửa đêm bỏ trốn, nhân chuyến anh đi công tác không về kịp. Từ huyện Lâm Hà, cô bắt xe về Hà Nội. Cùng đi với Cẩm Duyên có người đàn ông ở cách Vũ Hùng mấy căn nhà. Nghe đâu anh ta đã có một tiền án "chiếm đoạt tài sản công dân" và đã chịu ba tháng ở trại cải tạo...

    ***

    Sáng nay, Vũ Hùng không đến Ủy ban xã làm việc. Mọi hôm anh đến từ mờ sớm, ghé vào mấy nhà dân thăm hỏi. Ngồi ở phòng làm việc, Thu Loan bồn chồn lo lắng, chưa biết chuyện gì xảy ra. Mấy ngày nay, cô thấy Vũ Hùng gầy đi nhiều. Nhìn nước da sạm tái của anh, Thu Loan e ngại. Trong một lần phụ lợp nhà dân, ở trên mái Vũ Hùng lên cơn sốt. Toàn thân anh run bần bật suýt rơi xuống, nếu anh em không phát hiện sớm.

    Cửa nhà hé mở, Thu Loan dựng xe trước cửa. Từ trong hơi thở hắt ra nặng nhọc và tiếng hừ hừ cố gằn giữ trong cổ họng.

    - Trời! Anh bị sốt rét rồi! Để em đưa đến trạm xá. Thu Loan ngồi vào giường toan đỡ Vũ Hùng dậy.

    - Không cần đến trạm xá em ạ. Uống vào vài lần thuốc sẽ khỏi. Em mở ba lô lấy anh lọ thuốc ký ninh. Viên thuốc to màu trắng đó, điều trị sốt rét rất hay, ở bộ đội bọn anh thường dùng.

    - Để em nấu cho anh tô cháo.

    Thu Loan bốc mấy nắm gạo cho vào soong. Cô xuống bếp gạt tro nhóm lửa. Vũ Hùng đứng dậy, anh lấy sổ tay ghi những ý nghĩ vừa thoáng trong đầu...

    ***

    Năm năm trôi qua, cảnh vật, đời sống của người dân huyện Lâm Hà khác hẳn. Mô hình nhiều hợp tác xã sản xuất, chăn nuôi giỏi được ra đời. Trường học, trạm xá, Ủy ban các xã được xây mới trên những vùng đồi. Nhiều nhà dân xây dựng khang trang. Những vườn cây ăn trái, xen lẫn những thửa hoa màu. Đường đất liên xã đến từng thôn, từng ngõ rộng mở ô vuông bàn cờ, cao ráo rợp bóng cây xanh. Vũ Hùng được bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Gia Lâm, Thu Loan làm Phó chủ tịch xã. Cuộc sống người dân khá lên nhiều so với những năm về trước.

    Vũ Hùng không ngờ, vợ anh lại chung sống với người đàn ông đi cùng đêm đó. Về Hà Nội, ngựa quen đường cũ, hắn sống lêu lỏng, biếng nhác lao động, trộm cắp tài sản người khác đem bán mua ma túy hít nghiện. Đứa con trai èo uột là thành quả mới giữa Cẩm Duyên và người chồng nghiện ngập. Cô ấy "dính" HIV. Tin như sét đánh bên tai. Vũ Hùng xin phép trở về Hà Nội đưa đứa con gái đầu lòng của anh vào Lâm Đồng. Vợ anh nhìn Vũ Hùng ân hận, mắt cô lõm sâu. Cô khóc. Vũ Hùng ngùi ngùi xúc động, nước mắt anh nhòe ra chảy xuống mặn đắng ở đầu môi. Cẩm Duyên bước lại cầm tay con gái. Nước mắt cô giàn nhụa trên khuôn mặt gầy trắng xanh.

    - Mẹ! Mẹ hết bệnh vào với bố con nhé!

    Tiếng con gái cất lên. Lòng Vũ Hùng và Cẩm Duyên thắt lại, đau đớn.

    ***

    Vũ Hùng và Thu Loan đang chăm chú nhìn bản vẽ sơ đồ lò gạch. Có một thanh niên bước vào:

    - Báo cáo anh, tổ đào móng xây dựng công trình trường học cấp II, đụng phải hài cốt của một liệt sỹ.

    - Vậy à! Ta đi...

    Vũ Hùng gấp bản sơ đồ lại.

    - Anh đèo em xuống đó với. Xe đạp em bị xẹp bánh lúc sáng...

    Vũ Hùng lấy xe đạp chở Thu Loan đến nơi công trình. Như có ai mách bảo, anh vội vàng bước xuống hố moi lớp đất mỏng. Tấm ảnh anh cùng Long chụp chung hồi mới bước vào lính đã phai phần góc. Long hy sinh trong tư thế nằm sấp, khẩu B40 nằm cạnh. Quả bom nổ gần bên hất anh qua chỗ khác vùi sâu. Tiếng Vũ Hùng nghẹn lại:

    - Mấy em đưa Long về tạm thời để gần nhà anh, sau này đưa vào nghĩa trang liệt sỹ huyện.

    Quay qua Thu Loan, Vũ Hùng nói:

    - Em trực thay anh mấy ngày. Xong việc an táng Long, anh xin phép lãnh đạo về Bắc Giang để thông báo cho mẹ và hai em gái biết.

    - Mai anh sắp xếp đón xe đi sớm công việc ở Ủy ban xã anh cứ yên tâm.

    - Cảm ơn em nhiều. Vũ Hùng nhìn Thu Loan với ánh mắt thân tình nhưng không dấu được nỗi ái ngại lo lắng mọi công việc phải làm trên vùng quê mới.

    ***

    Hai cô em gái Long nhận ra Vũ Hùng từ ngoài ngõ. Cô gái lớn đỡ ba lô anh xuống giành mang vào.

    - Vũ Hùng đó phải không con? Con Ba xuống bếp rót nước chè gừng cho anh con uống. Vào đây con.

    Mẹ Long ngồi ở chõng tre nghe tiếng hai con gái nói chuyện với khách như giọng của Vũ Hùng thì vội vàng đứng dậy. Bà bước ra cửa vừa lúc Vũ Hùng và hai em gái Long bước vào. Anh đỡ bà ngồi xuống chõng tre rồi ôn tồn hỏi:

    - U có được khỏe không?

    - U vẫn bình thường có điều tuổi trên sáu mươi rồi nên thường đau nhức mình mẩy chân tay thôi. Thế vợ con và con có khỏe không? Vợ con vẫn đang dạy học ở vùng quê mới..?

    Vũ Hùng chỉ gật đầu không nói cho bà biết về tình hình của Cẩm Duyên khi đã theo người đàn ông khác về Hà Nội và đã dính HIV. Nói ra đây anh sợ bà buồn thêm. Từ ngày Long hy sinh, bà xem Vũ Hùng như con đẻ của mình. Và anh cũng thế. Dù công việc bận rộn đến mấy, năm cũng một, hai lần Vũ Hùng lại lên Bắc Giang thăm mẹ và hai em gái Long. Cứ mỗi lần có anh, bà cảm thấy bớt cô đơn trống trải, khoảng trống đau đớn mất con ấy gần như được an ủi, bù đắp của tình thâm mẫu tử. Mẹ Vũ Hùng qua đời trong đợt mười hai ngày đêm máy bay Mĩ mang bom bắn phá Hà Nội. Bà không nói ra ước nguyện của mình nhưng lương tâm bà rất muốn Vũ Hùng kết duyên cùng cô con gái lớn em kế của Long. Con gái bà cũng mấy lần thể hiện tình cảm tuy vẫn con e dè vì Vũ Hùng đã có vợ con. Cô không biết hoàn cảnh gia đình của anh đã ra nông nỗi này. Vũ Hùng rất quý gia đình và thương hai cô em gái. Không có Long, anh chẳng khác là người anh cả. Vũ Hùng chợt nghĩ đến Cẩm Duyên và Thu Loan, lòng anh rối như tơ vò.

    Sắp ít trái cây và mấy thẻ hương trầm lên bàn thờ. Vũ Hùng đốt hương cắm lên hai lọ sáu cây hương cháy đỏ. Anh chắp hai bàn tay đưa lên ngang miệng và như đang nói chuyện với Long. Xong, xuống ngồi cạnh mẹ Long, hớp ngụm nước chè gừng của em gái Long đưa. Vũ Hùng chậm rãi nói:

    - U và hai em... Đội công trình đào móng xây trường cấp II ở xã phát hiện có hài cốt của một liệt sĩ. Họ báo cho con hay và con có trực tiếp đến đó. Liệt sĩ đó chính là Long đấy u và hai em ạ. Trong túi áo của Long còn có một cuốn sổ tay nhỏ trong có tấm ảnh chụp chung với con lúc nhập ngũ. Chúng con đã đưa anh ấy về an táng tạm thời trong đất vườn con rồi sau đưa vào nghĩa trang liệt sĩ huyện.

    Nghe Vũ Hùng thưa chuyện gặp được hài cốt con trai. Bà xúc động rơi nước mắt. Bà đứng dậy đi lại bàn thờ, Vũ Hùng đi theo bên cạnh. Đứng bên bàn thờ bàn tay bà run run sờ lên di ảnh của con trai. Lắng mấy phút quay lại chỗ ngồi, bà nói:

    - U để thằng Long ở lại trong đó với con anh em sống chết đã có nhau. Con thay u và hai em chăm coi hương khói cho nó. Con Hai theo anh con vào trong đó để cùng lo mọi chuyện với anh con. Ở vùng đất mới u xem được đấy. Không chừng con cho nó ở lại rồi lấy chồng lập nghiệp trên đó luôn.

    Từ giã mẹ và em gái út của Long, Vũ Hùng và cô gái thứ hai lên đường quay vào Lâm Đồng. Cẩm Duyên đã được đưa vào bệnh viện chăm sóc điều trị bệnh HIV, con gái Vũ Hùng tạm thời ở với ông bà ngoại, anh sẽ đón lên sau...

    Duy Hiến

  • Chú mèo kiêu hãnh

    Kiêu hãnh và thận trọng, dữ tợn và liều lĩnh có lẽ là thứ đã giúp tính mạng của nó được toàn vẹn. Nhưng trong xã hội loài người tranh đấu cũng rất tàn nhẫn, chắc cũng chỉ có những con người cứng cỏi, mới có thể hiên ngang lướt qua những sóng gió bão bùng của cuộc đời để đi đến ánh sáng chiều tà ở cuối con đường. Ai rồi cũng sẽ chết, kể cả lũ mèo cũng vậy, nhưng tính cách và bản năng kiêu hãnh sẽ khiến người ta vượt qua mọi chông gai để chiến thắng số phận.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Dương dọn đống đồ ở gian bếp bỗng thấy có tiếng mèo con kêu. Chuyển chiếc thùng cát tông, anh nhận ra có bốn chú mèo con chưa mở mắt đang nằm quằn quại trên một chiếc bao cũ. Xung quanh có mùi hôi đến lạ, quanh chỗ những con mèo nằm, là cái xác của một con chuột nhắt đã mất cái đầu.

    Dương lớn giọng gọi lên nhà trên:

    - Mẹ ơi nhà mình có mèo!

    Bà Thiều đang dọn tủ thờ ở gian trên bèn đặt cái chổi lông gà qua một bên rồi xuống bếp. Bà nhìn về phía Dương, mừng rỡ nói:

    - Chắc có con mèo cái ở đâu về đây ở, rồi đẻ con ở đống bao cũ. Tội nghiệp lũ mèo con, lên cơn đói lắm nên mới kêu dữ thế.

    Bà Thiều nhìn quanh quẩn rồi hối Dương:

    - Cũng tới giờ chiều phải nấu cơm rồi. Con đi vo gạo, rồi lấy một lần nước gạo đặc đun sôi, thả ít đường vào cho mẹ.

    Đun nước gạo xong, bà Thiều khuấy nước gạo cho còn âm ấm, rồi đổ vào một cái đĩa mỏng và đưa đến gần cho lũ mèo con. Bà nói:

    - Nấu nước gạo thử xem chúng nó có ăn không.

    Rồi bà dọn xác con chuột chết, để lại một góc bếp có nguyên cái bao cho lũ mèo nằm. Lũ mèo vẫn kêu rên, thân mình chúng quằn quại, chúng mò tới mép cái đĩa ngửi ngửi nhưng không ăn. Dương đang chăm chú nhìn lũ mèo thì bỗng thấy tiếng mèo kêu gầm gừ. Nhìn ra phía cửa bếp, anh thấy một con mèo mướp đen lông đang dựng đứng miệng khè khè kèm âm thanh dọa nạt. Bà Thiều rửa bát ở ngoài sân thấy vậy liền nói:

    - Mẹ chúng nó về rồi đấy. Con ra ngoài này để cho nó vào cho con nó ăn.

    Dương đi ra ngoài. Con mèo cái lững thững bước vào, nó vẫn liên tục kêu lên những âm thanh ngao ngao. Lũ mèo con ngửi thấy hơi mèo mẹ. Chúng kêu lên inh ỏi. Mèo mẹ đến gần lũ mèo con, nó thấy cái đĩa có đổ nước gạo. Nó ngửi ngửi một lúc rồi bỗng thè lưỡi liếm nước gạo. Dương sợ mèo mẹ uống hết nước gạo bèn kêu lên:

    - Mẹ ơi con mèo mẹ uống mất nước gạo rồi.

    Bà Thiều cười sáng nói:

    - Để cho nó ăn, cho nó có sữa còn cho con nó bú.Dương quan sát lũ mèo, nhưng trời tối rồi, cũng tới giờ cơm. Anh đứng dậy xào nấu vài món rồi bưng lên gian trên cho cả nhà dùng bữa. Bẵng đi chuyện lũ mèo, hôm sau đi học về sực nhớ ra chúng, anh bèn chạy xuống bếp tìm. Nhưng ở chỗ cái bao cũ, lũ mèo con đã biến mất, chỉ còn mình cái đĩa nằm trơ trọi.

    Dương buồn thiu, lũ mèo không còn, anh cảm thấy mình dường như vừa bị mất mát đi một thứ gì đó rất lớn.Cạnh nhà Dương là một cái máy xát gạo, trước đây bố anh mở cho ông bác ở dưới quê lên trên này kiếm kế sinh nhai, hai anh em cùng làm. Nhưng giờ bố anh nhường hẳn cho ông bác tiệm xát thóc. Ông bác tên Hải, người thấp lùn lại bụng phệ nhưng rất vui tính. Chiều chiều khi rảnh việc, ông Hải lại ưỡn cái bụng phệ lê la khắp xóm.

    Thấy Dương trong bếp, ông Hải đi qua ngó vào hỏi:

    - Dương! Đang làm gì đấy, bố mẹ mày đâu?

    Dương chẳng buồn đáp, chỉ trỏ tay lên nhà trên. Ông Hải thấy lạ, nhưng cũng chẳng hỏi. Lên tới nhà trên ông buôn chuyện, một lúc thấy bà Thiều kể chuyện con mèo. Ông liền vỗ đùi cười khanh khách nói:

    - Tưởng chuyện gì, hóa ra là chuyện lũ mèo. Anh biết chúng nó ở đâu rồi.

    Bà Thiều háo hức hỏi:

    - Chúng nó ở đâu hả anh?

    Ông Hải nhấp ngụm chè tấm tắc nói:

    - Mấy hôm nay lũ chuột phá phách cái máy xát ác quá, tự dưng lại im bặt. Anh thấy lạ, dọn đống thóc tìm chuột thì phát hiện ra con mèo cái cắp cả bốn con con ủ sau một cái bao, chỗ gần tải xay bột ngô.

    Bà Thiều gật gù:

    - Chắc con mèo cái đó là mèo cái hoang, mèo cái hoang sợ người. Chỗ bếp em dọn sạch quá, nó không nấp được mắt người nhìn, nên nó cắp con nó sang bên ấy.

    Dương biết chuyện, năn nỉ ông bác cho qua xem mèo. Ông Hải đồng ý, xem xong anh mới nhẹ lòng. Lũ mèo vẫn có bốn con đủ cả.

    Ông Hải khề khà:

    - Máy xát này lắm chuột, xem ra con mèo cái này vớ bở, lại béo đẫy lên cho mà xem.

    Bầy mèo ngày một lớn dần, và cũng rất háu ăn. Nhưng kèm theo đó là số lượng chuột cũng suy giảm. Gần đây mèo mẹ gầy rộc đi, chắc nó đã nhường thức ăn cho lũ con của nó. Lũ mèo con đã ăn được thịt và cũng đã bắt đầu tập tành đi săn chuột. Thấy lũ mèo đói, sau mỗi bữa cơm, Dương thường để dành cho chúng một đĩa cơm thừa có trộn lẫn với thức ăn. Ban đầu đĩa cơm để thiu quá hai ngày, lũ mèo cũng chẳng đến gần. Nhưng rồi chúng đói quá, con mèo mẹ đánh liều chạy đến ăn cơm. Thấy không có vấn đề gì, lũ mèo con cũng nhao nhao chạy đến để ăn. Đĩa cơm chẳng mấy chốc bị chúng ăn sạch bay. Lũ mèo đã lâu không được ăn một bữa no nê như thế, con nào con nấy ưỡn bụng rúc vào chỗ trốn để nằm ngủ.

    Thấy chúng đã bắt đầu ăn cơm, mỗi bữa ăn xong, Dương lại đặt đĩa cơm ở ngoài vại nước. Anh phỏng theo tiếng mèo mẹ gọi con để gọi chúng đến. Lũ mèo quen dần, đến nỗi mỗi khi anh gọi meo meo là cả đủ năm con đều sẽ xông ra dương đôi mắt hau háu nhìn quanh. Có lúc chẳng phải bữa mà Dương gọi đùa thì chúng cũng xông ra. Lũ mèo quen thói ăn cơm bỏ ăn thịt chuột. Đám chuột lại hoành hành, nhưng vì sợ hơi mèo, nên chúng cũng không dám quấy nhiễu nhiều.

    Những bữa cơm cho mèo ăn, Dương lân la tới gần chạm nhẹ muốn vuốt ve chúng. Lũ mèo gầm gừ kêu ngao ngao cảnh giác, miệng vẫn ăn rau ráu. Có lần Dương thử sờ vuốt ve thì bị chúng cào cho chảy cả máu tay. Rồi chúng cũng lại quen, con mèo mẹ như được thuần dưỡng ngoan ngoãn hơn hẳn. Đã có lúc Dương vuốt ve nó thoải mái mà nó chẳng hề kêu lên câu nào. Hình như nó đã biết rằng Dương không hề có ý muốn hại nó.

    Dương thử vuốt ve lần lượt từng con mèo, con nào cũng rất hung dữ, chỉ cần anh sờ tay vuốt ve lưng chúng là sẽ bị chúng cào. Năm con mèo mỗi con một tính cách khác biệt, con thì nhút nhát, con thì hùng hổ, con thì táo tợn đến mức mặc kệ Dương làm gì thì làm, cho dù anh có bế cả người nó lên thì mồm nó vẫn cứ hướng về cái đĩa cơm, nhưng nó vẫn không hề quên gầm gừ.

    Rồi lũ mèo cũng lớn, bốn con mèo con ngày nào giờ đã có thân mình rắn chắc to khỏe. Con nào trông cũng béo tốt bụ bẫm. Số lượng cơm chúng ăn cũng nhiều, ngày xưa chỉ cần cái đĩa là đủ cho mèo mẹ và bốn mèo con, nhưng nay phải cần đến một cái tô cơm lớn vẫn không đủ sức ăn của chúng.Ông Hải khề khà cái bụng ngồi xuống cái ghế ở gian khách. Mặt rầu rầu nói:

    - Dạo này nhà anh lại có chuột, đám thóc anh kê chúng nó cắn thủng hết bao vương vãi khắp nơi. Thím xem nhà thím có đám mèo, bắt cho anh một con.

    Nhà ông Hải ở cách đây độ ba cây số, máy xát chỉ là nơi ông làm việc. Mấy hôm nay lũ chuột bên ấy phá phách tợn, nhà nào cũng bắt mèo về nuôi. Ông Hải thấy Dương có năm con mèo béo tốt, con nào cũng khỏe mạnh bèn đánh tiếng muốn xin một con về nuôi.

    Bà Thiều nhìn quen mắt lũ mèo, rất đỗi yêu quý chúng. Nhưng nay ông Hải đã mở miệng hỏi xin thì bà chẳng dám chối từ, bà cũng phải nói khéo:

    - Nhà đông mèo, ăn chỉ tổ tốn cơm, em thì tiếc gì. Nhưng mà bản tính hoang dã của chúng thì cũng không kìm được. Đám mèo ấy đanh đá hiếm ai bằng, em sợ không bắt được con nào bác lại buồn, mà bắt rồi nhỡ nó ở không quen lại bỏ đi mất.

    Dương nghe hết câu chuyện lại thấy tội tội cho ông Hải. Anh cười toe toét khoe:

    - Không phải là con nào cũng không bắt được đâu bác ạ. Có một con hiền nhất cháu vẫn thường hay dụ nó ăn và bế nó lên trên tay, tuy nó vẫn gầm gừ nhưng không hề làm gì cháu cả. Nếu nhà bác có chuột thì để cháu bắt cho bác con ấy.

    Ông Hải sướng tít mắt, hối Dương đi bắt con mèo cho mình. Ông Hải còn nhét vào tay Dương một cái bao dứa rồi dặn:

    - Bắt được nó thì nhét vào đây, để chiều bác mang về.

    Dương được ông Hải xoa đầu, sướng lắm, cảm thấy mình có ích, xắn tay áo xông ra chuẩn bị bắt mèo. Anh để sẵn ít cơm, rồi giả giọng mèo kêu để gọi lũ mèo. Lũ mèo nghe thấy tiếng gọi, lồng lộn xông ra. Chúng từ bốn phương tám hướng quy tụ về phía trước cái bát cơm, ngồi xổm trực mắt nhìn chằm chằm vào cái bát cơm. Dương đổ cơm trắng vào bát, chúng tranh nhau ăn. Chờ chúng đang mải mê ăn hăng say, anh bắt đầu lân la cái tay vuốt vuốt lưng con mèo hiền nhất. Nó không phải ứng gì vẫn chỉ kêu lên những tiếng làu bàu như mọi khi. Bất ngờ Dương xốc người nó lên rồi nhét vào trong bao. Con mèo giãy giụa nhưng không kịp vì giờ nó đã bị nhốt ở trong bao.

    Từ ngày con mèo ấy bị bắt đi cho ông Hải, lũ mèo ít đi một miệng ăn nhưng tô cơm đầy thì vẫn hết. Ít hôm sau thì con mèo cái lại có chửa, lần này nó đẻ tới năm con, nhưng vì sợ hơi người nên nó đã cắn chết mất một con, rồi ăn thịt sạch sẽ con mèo con mới sinh ấy để cho chỗ ổ nó nằm được sạch sẽ. Bầy mèo tăng lên thành bảy con rất đông đúc. Mỗi lần Dương gọi là cả bầy mèo lại xông ra. Cạnh ngay cái tô cơm trước đây phải bày thêm một đĩa cơm nữa cho chúng ăn mới đủ. Vì biết thói lũ mèo ít gần hơi người thì sẽ hoang dã. Mèo con từ lúc sinh ra cho tới lúc lớn lên của lứa này, Dương chăm chỉ bế và vuốt ve chúng từ khi chúng con nhỏ. Bốn con mèo sinh sau thành ra hiền lành ngoan ngoãn y như mèo nhà.

    Bầy mèo đông quá nên hàng xóm tưởng nhà Dương nuôi mèo nhiều để bán, hơn nữa con nào cũng béo tốt bụ bẫm, có người thích thì hỏi mua. Bà Thiều chỉ cười nói chúng là mèo hoang chứ chẳng phải nhà mình. Ai cũng không tin.Chiều nay ông Hải không xuống máy xát làm, chỉ còn bà Thơm vợ ông là vẫn xát gạo cho khách. Dương nhớ con mèo bắt cho ông Hải, chạy xuống hỏi thăm bà Thơm về tình hình của nó.

    Bà Thơm buồn rầu nói:

    - Từ ngày con mèo ấy về nhà bác, bác trai nhà mày không cho nó ăn cơm, bảo nó phải đói thì mới bắt được chuột. Con mèo gầy rộc hẳn, lũ chuột cũng ngớt dần, rồi thì con mèo cũng bỏ đi. Mới đầu thì đôi hôm nó còn quay về nhà cũ để ngủ, nhưng rồi nó cũng chẳng về nữa. Chắc nó bị ai bắt thịt mất.

    Dương tiếc ngẩn tiếc ngơ, thấy hối hận khi đã bắt con mèo cho ông Hải. Lẽ ra nó phải được chăm sóc và sống thật hạnh phúc như lũ anh em của nó.

    Rồi lũ chuột nhà ông Hải lại xuất hiện phá phách. Ông Hải lại cất công tới hỏi xin bà Thiều một con mèo. Dương đi vắng chẳng biết chuyện, nếu không thì chắc cũng chẳng để ông Hải bắt thêm một con mèo nào nữa. Bốn con mèo lứa sau ngoan như mèo nhà, ông Hải bắt rất dễ dàng chẳng cần nhờ tới ai.

    Lũ mèo còn lại bảy con tính cả con mẹ, căn nhà ngói đã xuống cấp. Bố Dương tính xây hẳn căn nhà mới khang trang, nhưng lại khó chuyện lũ mèo. Nhân lúc Dương không có ở nhà, ông cho người tới bắt ba con mèo ngoan ngoãn và cả con mèo mẹ đem bán. Còn lũ mèo lứa đầu hung dữ vì không bắt được nên ông để kệ chúng.

    Trong bữa cơm tối hôm nay có một bát thịt nấu kiểu giả cầy. Dương ăn thấy ngon bèn hỏi thịt chó ở đâu ra. Bố anh cười vang đáp:

    - Thịt chó với thịt mèo mà cũng không phân biệt được. Chiều nay tao bắt bốn trong số bảy con bán cho quán cầy của lão Mậu. Lão thịt hết cho khách, rồi biếu nhà mình một nửa miếng thịt mèo. Đây là thịt con mèo vàng hiền hiền có chấm đen ở đuôi đấy. Ăn đi con, nuôi chúng nó bao lâu mà giờ chỉ được bữa thịt. Ba con còn lại nếu không hung quá thì tao bắt nốt rồi.

    Dương ôm gối khóc vì buồn thương cho số phận của chúng. Lũ mèo chỉ còn ba con, anh gọi chúng vẫn ra. Ngoại trừ con mèo hung dữ nhất, hai con mèo còn lại vẫn cho Dương vuốt lưng, chỉ khác là nếu bế chúng lên thì chúng sẽ phản ứng rất dữ dội.

    Căn nhà của Dương phá đi, lũ mèo biến mất. Không còn ai cho chúng ăn nên chúng đã bỏ đi chăng. Ngày căn nhà mới xây xong, Dương nhớ lũ mèo, cất tiếng gọi giả mèo mẹ như ngày nào, xung quanh vẫn chẳng có con mèo nào xuất hiện. Một năm trôi qua, lũ mèo chắc không chết đói thì cũng bị người ta bắt thịt. Hoặc trở thành mèo hoang giống mẹ nó trước đây lạc tới một ngôi nhà nào đó sinh ra thêm những lứa mèo con. Liệu có ai tốt với chúng giống như Dương.Dương buồn rầu quay đầu định bỏ vào trong nhà. Bỗng có tiếng mèo kêu ngao ngao. Dương mừng rỡ nhìn ra, một con mèo mướp đen lông mượt, vẫn béo tốt, ngồi ngay chỗ cái đĩa ngày nào. Hóng đôi mắt nhìn anh đầy chờ đợi. Đó chính là con mèo hung dữ nhất trong đàn mèo. Con mèo đó chẳng ai có thể chạm được vào người nó, lại ăn khỏe nhất nên trong đàn mèo thì Dương có chút ghét nó.

    Con mèo ngồi đó chờ đợi bữa cơm của Dương như ngày xưa, hai người anh em của nó chẳng biết giờ đang ở nơi nào. Hoặc có thể chúng vì đói nên ăn nhầm phải bả chuột người dẫn quanh đây chết rồi chăng?

    Dương vừa cười vừa khóc, đổ cơm cho con mèo mà anh cứ khóc. Anh cảm thấy mình rất có lỗi đối với chúng.Con mèo ăn xong bát cơm nhỏ thì vẫn chưa đi ngay, nó liếm láp bộ lông của mình. Dương run run tay chìa tới trước mặt nó. Nó gầm gừ và tỏ ra thái độ rất dữ tợn giống như trước đây. Dương nói:

    - Đây tay tao đây, mày cào đi. Lỗi là tại tao không lo được cho chúng mày. Để chúng mày tan đàn xẻ nghé, để bị bắt thịt bị giết hại. Mày cào tay tao để trả thù cho anh em của mày đi.

    Con mèo như có linh tính, nó cứ ngồi xổm nhìn Dương. Bỗng nó thè lưỡi liếm nhè nhẹ vào tay anh vài cái.

    Liếm xong, nó đứng dậy bỏ đi. Bóng con mèo khuất dần sau ánh chiều tà, chầm chậm đi vào dĩ vãng. Sau ngày hôm đó nó chẳng bao giờ quay trở lại. Chắc có lẽ nó đã chết vì một lý do nào đó, hoặc có thể nó quay lại một lần cuối cùng để trả ơn Dương những ngày tháng cưu mang cuộc đời nó.

    Nó là con mèo hung dữ nhất, nhưng tại sao lại là con mèo duy nhất còn sống sót? Số phận tàn khốc đã quét qua tất cả những anh em của nó. Vì chúng ngu dốt, vì chúng hiền lành nên mới dễ chết sao?

    Kiêu hãnh và thận trọng, dữ tợn và liều lĩnh có lẽ là thứ đã giúp tính mạng của nó được toàn vẹn. Nhưng trong xã hội loài người tranh đấu cũng rất tàn nhẫn, chắc cũng chỉ có những con người cứng cỏi, mới có thể hiên ngang lướt qua những sóng gió bão bùng của cuộc đời để đi đến ánh sáng chiều tà ở cuối con đường. Ai rồi cũng sẽ chết, kể cả lũ mèo cũng vậy, nhưng tính cách và bản năng kiêu hãnh sẽ khiến người ta vượt qua mọi chông gai để chiến thắng số phận.

    Hết!

    Ngạ Quỷ

  • Người qua đường năm đó

    Tôi nhận ra cuộc sống chưa bao giờ là hoàn hảo về mọi thứ, chỉ là người ta biết chấp nhận và dung hòa để làm tốt nhất những công việc khác nhau mà thôi.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Tôi gặp anh vào một chiều thu tháng tám, giữa lúc đang có một vài điều rối ren như cố len lỏi vào cuộc sống của tôi những gam màu ảm đạm, cả một sự bất định khiến mình dường như bị bỏ rơi giữa khung trời tăm tối, rợn ngợp mà ở đó bản thân chẳng khác nào chú chim non đang lạc hướng tìm đường giữa cõi mơ hồ đầy ảo vọng.

    ****

    Tất cả mọi rắc rối đều bắt đầu từ câu chuyện ngày ấy. Ba tôi ngoại tình. Ngày nào cũng vậy, những cuộc cãi vã, những bữa cơm không vẹn tròn vì những lời lẽ chẳng hay ho từ ba tôi, những giọt nước mắt ngầu đỏ chỉ trực trào ra từ đôi mắt mẹ là tất cả những cảnh tượng luôn lặp lại, kéo dài và ám ảnh tôi trong suốt những năm tháng tuổi trẻ ấy. Trừ khi đi học, trở về nhà tôi lại bị chìm đắm trong những trận chiến tranh không hồi kết.

    - Ông lại nghe điện thoại của con nào.

    - Bà im đi. Đây là đối tác làm ăn của tôi.

    Ngày ấy tôi còn chưa phân định được giả thật như thế nào? Duy chỉ có một thứ luôn tồn tại trong con người tôi lúc ấy là sự khó chịu và cảm giác hoài nghi đan xen về tình cảm của ba mẹ. Kể một chút về gia đình của tôi: ba tôi làm việc ở cơ quan thuế của tỉnh, còn mẹ tôi là giáo viên ở một trường tiểu học. Kinh tế chẳng phải thiếu thốn gì, đặc thù nghề nghiệp khiến cho thời gian gia đình được quây quần bên nhau là một chuyện khó. Bởi vậy những xa cách và hiểu lầm diễn ra là điều dễ hiểu.

    Ngày cuối tuần định mệnh của năm đó, ba tôi ra ngoài quên điện thoại, khi đó tiếng chuông tin nhắn báo về chiếc iPhone của ba đặt trên bàn với nội dung đầy tình tứ từ một cô gái lạ. Vô tình ngay lúc đó mẹ tôi đọc được và chuyện gì đến cũng sẽ đến. Những ngày sau đó, sự ngờ vực mâu thuẫn cứ dâng đầy trong căn nhà lạnh lẽo. Cuộc sống gia đình từ bao giờ đã phủ lên một thứ chủ nghĩa độc lập, không còn những câu chuyện sum họp vào mỗi buổi tối sau khi ăn, cũng chẳng còn sự quan tâm mà trước đây tôi cho là phiền toái từ ba mẹ.

    - Ông viết đơn ly dị đi, tôi ký.

    - Bà...bà thật là...

    ****

    Mấy tháng sau, khi không thể tiếp tục đối mặt được với việc đó mẹ tôi quyết định ly thân, bà bỏ về nhà ngoại. Căn nhà càng thêm trống trải. Đó là khoảng thời gian khó khăn nhất với tôi khi sắp sửa bước vào kì thi đại học vốn quan trọng nhất của cuộc đời. Chán nản tâm lý, áp lực và cảm thấy bản thân thật vô dụng vì chẳng giúp được gì để có được sự hài hòa nhất trong câu chuyện của ba mẹ, tôi đã có một hành động theo lý trí đầy mạo hiểm: rời nhà lên thành phố một mình, quyết định bỏ luôn việc học đang dở dang và cả ước mơ về ngôi trường Đại học ở phía trước, dù cho ở trên đó tôi chẳng có lấy một người họ hàng thân thiết nào để nhờ cậy, cũng chưa biết mình sẽ làm nghề gì và sống ra sao ở một nơi lạ lẫm như thế, chỉ có một điều chắc chắn mà tôi luôn ngầm định rằng mình sẽ không bao giờ quay về ngôi nhà chỉ toàn là lạnh lẽo và cãi vã.Như một người lạc loài giữa đường phố đông đúc, phồn hoa, dòng người kia vẫn hối hả ngược xuôi trên con đường trải dài phía trước. Khi đang mải miết tìm kiếm cho mình một ngôi nhà trọ tạm ổn, tôi vô ý va vào một anh người lạ khiến sấp giấy tờ trên tay của anh rơi lả tả, trong giây phút cuống quýt tôi xếp lại sấp giấy tờ và liên hồi xin lỗi anh. Nhìn tôi đúng mã lơ ngơ của một đứa ở quê mới lên thành phố, anh hỏi:

    - Em ở quê mới lên à?

    - Dạ!!!

    Sau mấy câu hỏi han, anh dẫn tôi về xóm trọ chỉ đơn giản là xóm trọ của anh còn phòng cho thuê. Hôm đó thực sự là kỷ niệm đáng nhớ trong đời tôi, anh kể chuyện với tôi như tâm sự với một người em, anh tỏ ra là người đứng đắn - đó là cái đứng đắn của một người từng trải và thấu hiểu, bởi thế mà anh phần nào đoán được tôi bỏ nhà đi. Câu chuyện của anh cứ theo lẽ tự nhiên mà đến với tôi đầy cảm động và còn đúng thời điểm trong hoàn cảnh của tôi lúc đó. Nhà anh nghèo, ba mẹ không đủ tiền cho anh đi học, anh phải tự đi làm lấy tiền đóng học phí và nuôi sống bản thân. Tôi thực sự cảm phục trước một con người giàu nghị lực như anh, chẳng thể dấu được nỗi lòng của mình, tôi đã kể hết câu chuyện về gia đình mình chỉ để được giải tỏa nỗi lòng với một người bạn mới quen. Anh khuyên tôi nên trở về quê tiếp tục ôn thi vào đại học, anh bảo con đường tương lai phía trước đang rộng mở, đừng tự đóng cánh cửa ước mơ hay khóa chặt mình chỉ vì những khó khăn vụn vặt ở đâu đó.

    Thực ra, không cần phải đợi đến lúc anh khuyên giải, tôi đã tự thức tỉnh mình sau câu chuyện về cuộc đời của chính anh. Một cảm giác hổ thẹn nhiều hơn là xúc động, bởi anh đã vượt qua thời khắc đầy khó khăn đó, còn tôi một đứa vốn sinh ra đã chẳng thiếu thốn gì, có đầy đủ điều kiện để đi học, được ba mẹ yêu thương và chiều chuộng. Tôi nhận ra cuộc sống chưa bao giờ là hoàn hảo về mọi thứ, chỉ là người ta biết chấp nhận và dung hòa để làm tốt nhất những công việc khác nhau mà thôi.

    ****

    Buổi sáng ngay sau hôm nói chuyện với anh, tôi vội vã đón chuyến xe khách đầu tiên từ bến trở về nhà và nung nấu trong mình kế hoạch ôn thi vào đại học. Cuối cùng, sự quyết tâm cũng được đền đáp xứng đáng, năm đó tôi đã trúng tuyển vào ngôi trường mà tôi mơ ước đúng như sự kỳ vọng của ba mẹ.

    Như lời đã hứa với tôi, ba mẹ tôi đã hòa hợp, niềm hạnh phúc gia đình đã trở lại nhờ giá trị của khoảng thời gian xa cách. Tôi nhận ra mọi thứ sẽ trở nên khác đi nếu con người cho nhau thời gian để thay đổi.

    Cho đến sau này, khi đã trở thành một cô phóng viên năng động, tôi vẫn sẽ không thể quên lần gặp định mệnh giữa tôi và anh – một người qua đường lạ lẫm ấy. Câu chuyện về nghị lực của anh giống như một cuốn sách đời thường kì diệu kéo tôi về giữa khoảng khắc cuộc đời đang dần đi vào mịt mờ và vô nghĩa. Cũng từ câu nói: "đừng bao giờ tự khép cánh cửa tương lai của đời mình chỉ vì những khó khăn vụn vặt ở đâu đó" của anh sẽ mãi là bài học tinh thần, là câu nói khắc ghi để tôi sống tốt hơn cho những hành trình tiếp theo của cuộc đời dù trong bất cứ hoàn cảnh nào đi chăng nữa.

    Cảm ơn anh - một người qua đường đã thay đổi khoảng khắc cuộc đời tôi trong buổi chiều thu đẹp lạ lùng của những năm tháng ấy....

    Nhíp

  • Cuộc sống mới

    Tôi vẫn sống không phải ở giây phút nghỉ ngơi mà ở ngay lúc làm việc. Mình đâu có bán thời gian và sức lao động của cuộc đời để đổi lấy tiền. Mỗi công việc đều có ý nghĩa riêng của nó mặc cho nó không phải là việc làm lí tưởng, đáng tự hào.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Chợt mở mắt mọi thứ sao khác quá chỗ mình ngồi rõ ràng không có cửa sổ mà. Nhưng sao lại im ắng đến vậy? không có tiếng máy may hay tiếng ồn ào nói chuyện. Rồi dần dần nhận ra mình vẫn đang nằm trên chiếc giường êm ái trong ngôi nhà thân thuộc của mình. Những ngày đầu đi làm chứa đầy điều mới lạ đến nỗi trong vô thức đã không thể phân biệt được đâu là nhà đâu là xưởng làm việc.

    Vậy là mình đã đi làm trở thành người lao động, kiếm được tiền không còn là một đứa trẻ ngày ngày đến trường học, phụ thuộc vào người lớn nữa. Mới hôm nào thôi còn vô tư bên bạn bè, miệt mài bên đống sách vở vậy mà giờ đây những thứ đó sẽ không còn trong cuộc sống của mình. Thi xong, lễ bế giảng kết thúc tiếp theo không còn là một mùa hè sôi động được tự do vui chơi tạm thời quên đi đóng sách vở bài tập. Mười hai năm học khiến cho một đứa trẻ ngây thơ thay đổi rất nhiều, quãng đường gắn bó kéo dài tưởng như mãi mãi cũng có lúc phải dừng lại, trường học đã ôm ấp uốn nắn những đứa trẻ để trở thành một người lớn.

    Học sinh ở quê tôi đều có chung một hướng đi khi tốt nghiệp cấp ba, như một con đường đã trải ra sẵn chỉ đợi mình bước vào, nhiều công ty mở ra tạo cơ hội cho rất nhiều người lấy nông nghiệp là nguồn thu nhập chính có nguồn thu nhập ổn định hơn. Làm công nhân là công việc đơn giản nhất mà ai cũng có thể làm không cần phải bằng cấp học thức hay trí thông minh lao động bằng tay chân cuối tháng được trả lương. Ngày đi tuyển dụng giống như đi nhập học tại một ngôi trường mới mọi người cũng theo thứ tự làm thủ tục giấy tờ và được hướng dẫn. Đầu tiên được làm quen với máy móc, một chút lạ lẫm một chút khó khăn. Mọi người vào vị trí cố định của mình có người chỉ dẫn và quản lý ra vào đúng thời gian quy định khá giống với đi học ở trường chỉ khác là mình phải làm việc hết 8 tiếng đồng hồ mới được đi về và mỗi ngày được trả lương thay vì phải đóng học phí.

    Làm công nhân chẳng vẻ vang hay đáng tự hào chút nào đó là một công việc bình thường và đơn giản nhất. Ngày trước khi đứng nhìn dòng người tấp nập ở cổng các công ty ồn ào và lộn xộn tôi đã nghĩ cuộc sống như vậy thật là chán. Làm suốt ngày đến tối mịt mới về tôi đã sợ mình chẳng thích nghi được và chẳng thể làm được công việc ở đó. Thế rồi dòng thời gian cũng chạy theo đúng quy luật của nó ai cũng phải trưởng thành. Là học sinh tôi đã vô tư thoải mái miệt mài ôn bài và phấn đấu đạt thành tích, ba năm cấp 3 qua nhanh vội vã mỗi đứa đều phải tự lựa chọn cho mình một hướng đi riêng, đứa lên đại học đứa thì học nghề hoặc đi làm luôn. Chẳng ai giống ai trước kia có thể có nhiều đam mê hoài bão lắm nhưng giờ đây còn phải nhìn vào một thứ quan trọng hơn: thực tế cuộc sống. Công ty rộng lớn dòng người đông nghịt hối hả và mình từ lúc nào cũng đã lẫn vào trong đám người đó. Sáng dậy đi làm không cần phải cầm sách vở làm hay nhẩm bài cũ như lúc trước. bước vào phân xưởng, làm công việc được giao. Ở đây tôi đã học được nhiều điều thì biết thêm được nhiều thứ. Làm công nhân không hề nhàm chán và vô vị như tôi vẫn nghĩ chẳng phải là những con robot được gắn những mã số riêng, làm việc suốt 8 tiếng đồng hồ rồi đi về. Ở đây cũng có bạn bè nhiều người đáng tuổi cha mẹ mình nhiều người cùng tuổi còn vụng về và thiếu kiên nhẫn. Mọi người cùng chia sẻ công việc và giúp đỡ lẫn nhau, mỗi người một việc riêng để cùng tạo nên một sản phẩm chung. Tôi đã biết được quá trình để tạo ra một chiếc áo là như thế nào, không quá khó để tạo ra nó, chỉ cần quen tay làm sai rồi sửa dần dần mọi việc cũng trở nên dễ dàng.

    Khi trời sầm tối ánh điện sáng trưng từ những cột đèn thắp lên mới là lúc ra khỏi công ty, tăng ca liên tục, thời rảnh dường như chẳng có. Nếu như trước đây mỗi buổi chiều đều được thoải mái ở nhà chuẩn bị cơm nước thì giờ đây khi tất cả các ngôi nhà đều lên đèn trời tím biếc và ánh sao sáng rực bắt đầu một buổi tối của mình. Nhận tháng lương đầu tiên mới biết làm ra đồng tiền không hề dễ dàng chút nào.

    Tôi vẫn sống không phải ở giây phút nghỉ ngơi mà ở ngay lúc làm việc. Mình đâu có bán thời gian và sức lao động của cuộc đời để đổi lấy tiền. Mỗi công việc đều có ý nghĩa riêng của nó mặc cho nó không phải là việc làm lí tưởng, đáng tự hào.

    Ngày ngày trôi qua quen dần với mọi người, với việc mình làm biết thêm nhiều bạn mới. Chẳng nhớ đã bao lâu chưa làm một bài toán bao lâu chưa viết một bài văn . Suốt ngày làm việc trong xưởng cũng chẳng biết cái lạnh đã tràn về lúc nào. Cơn mưa phùn đầu mùa càng làm cho không khí thêm lạnh cóng, buốt giá. Giờ này năm trước còn háo hức cùng đám bạn đan khăn len mũ len rồi vội vã bên đống sách vở cần học thuộc đến phát ngán cho kì thi. Mọi thứ thay đổi thật nhanh, suốt 12 năm bên cây bút quyển vở đâu dễ nào quên, vẫn muốn lại được làm học sinh hồn nhiên không lo nghĩ không áp lực. Nhưng cuộc đời học sinh đẹp đẽ đó phải để cho nó thành kỷ niệm, cất sang một bên và tiếp tục với cuộc sống mới của riêng mình là một người trưởng thành lao động từ chính công sức của mình. Làm công nhân chẳng bao giờ là ước mơ đẹp đã cả, đó là thực tế. Dù không hào nhoáng rực rỡ nhưng thực tế sẽ luôn đẹp hơn giấc mơ. Công việc gì đâu quan trọng quan trọng là mình làm tốt việc và yêu lấy việc mình là biết được việc mình làm cũng tạo ra một điều ý nghĩa .

    Lại một buổi sáng sớm tinh mơ không cần phải bận tâm đến bài vở, bước ra khỏi nhà đến nơi làm việc. Từng giây phút làm việc là từng giây phút được sống hòa nhập cùng mọi người và cải thiện bản thân tạo ra thành quả tốt nhất. Làm công nhân đi sớm về muộn nhưng đâu có nghĩa là lãng phí thanh xuân. Công việc đầu đời để tiến đến hành trình trưởng thành hơn, để những ngây thơ vụng về dần đầy về đẩy về phía sau để phía trước có bao khó khăn mệt mỏi vẫn sẽ luôn mỉm cười đón nhận. Sau một ngày dài đi làm, khi về nhà đường phố vẫn đông đông vui và nhộn nhịp, bóng tối càng làm cho những căn nhà thêm đầm ấm bởi ánh điện sáng trưng. Hương vị của chiều tối của bầu trời quang đãng sau một ngày dài ở trong nhà làm việc mới được cảm nhận thật tuyệt vời biết bao. Mình phải sống khác đi, sẽ không còn có nhiều thời gian để xây dựng những ước mơ ngày trước nhưng hi vọng vẫn luôn tràn ngập, nắng chiều vẫn rất đẹp ngay cả khi mình ra ngoài khi mặt trời đã lặn. Cuộc sống mới của tôi đã đến từ khi nào mình đã làm quen với nó ra sao tôi không còn nhớ rõ chỉ biết rằng mình sẽ sống khác và sẽ không ngừng cố gắng.

    Chuchi

  • Chú Thuần

    Bản thân tôi đã từng đinh ninh là chỉ việc sống mộc mạc bình dị, trời sẽ không bạc ta, bởi lẽ ông cha mình đã dạy rồi "Trời đãi kẻ khù khờ". Giờ nghĩ kĩ lại mới phân vân rằng liệu có đúng như vậy thật không, hay phải có phúc trời cho thì mới sống an nhiên được, vì nếu không thì làm sao không gian manh, mưu mẹo mà có thể chống chọi nổi trong cái thời đại hỗn mang thật hư đảo điên hết cả lên này.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Mấy hôm vừa qua, tôi đã nung nấu ý định viết một truyện ngắn đầu tay để gửi tham dự một cuộc thi nhưng bất thành. Vì vốn dĩ điều tiên quyết để hình hài nên một câu chuyện có sức hấp dẫn người đọc là một cái gì đó xung đột, một chi tiết cao trào, đậm chất kịch tính, mà tiếc thay, cuộc sống hạn hẹp của tôi chưa nếm trải được điều gì gay cấn tương tự như thế. Vì văn là đời, cũng như đời là nguyên liệu sống còn của nghệ thuật thơ ca. Bởi một người cầm bút muốn bịa chuyện mà kể thì cũng thật khó có hồn, chí ít không phải mình trực tiếp va vấp thì cũng phải có cơ hội chứng kiến rồi suy tư, nghiền ngẫm, hoặc đọc (phương thức đi du lịch không cần xăng xe, cách sống qua nhiều kiếp đời chỉ với ít giờ cắm cúi qua từng trang sách để cảm, để nhớ để mơ) thật nhiều.

    Hôm nay cũng là một ngày như bao ngày, thậm chí còn tệ hơn khi đây là ngày mưa dầm dề đầu tiên của tôi trên đất Mỹ (sau trận mưa rào không đáng kể cách đây độ hai tháng đổ lại), mọi người đều đã đi công chuyện, chỉ còn tôi một mình trong căn nhà rộng nhưng thiếu đi tiếng nói cười. Những tưởng mình sẽ phải loay hoay tìm một bộ phim nào đó xem để giết thời gian, thì bỗng chú, một người bạn của một người chú khác không mấy thân thích ruột thịt đến chơi nhà tôi. Trong cái bầu không khí ảm đạm lạnh ngắt đó, chú đến mang theo một thứ cảm giác rất hào sảng, phóng khoáng, rất nguyên sơ, rất đời, rất tình như chính cái tên của chú - một cái tên chắc là dễ bắt gặp trong những ngòi mực đượm buồn của mấy nhà văn hoài cổ có nhiều nỗi bất mãn với xã hội Việt Nam thời kỳ quá độ. Chú tên Thuần.Chú Thuần qua du lịch và cũng là để đi thăm bà con ở cái xứ sở cờ hoa này đã gần hai tháng, và chỉ ngày mốt thôi là chú đã về lại Sài Gòn. Trong suốt những chuyến đi, chú luôn tự thuê xe để lái vòng quanh thăm thú đó đây. Quê chú ở Nha Trang, một thành phố nổi tiếng bởi những bờ biển đẹp với sóng xanh cát trắng nắng vàng và những rặng dừa rỉ tai nhau rì rào trong gió đêm ngày. Nhưng than ôi, Nha Trang có còn thơ mộng vậy không khi qua lời kể của chính người con sinh ra và lớn lên ở mảnh đất đó, giờ đây các khu đô thị, nhà cao tầng mọc san sát nhau, đứng trên cao nhìn xuống không có một khoảng hở; mạng lưới cống rãnh xuống cấp trầm trọng là nguyên nhân khiến nước ứ đọng bò lênh láng trên các con đường ngõ hẻm vì không biết chảy đi đâu cho hết khi mùa khô đi qua.

    - "Ủa con ở đâu?"

    - "Dạ con ở Huế."

    - "Chà ở Huế tui mê nhất đoạn đường Đoàn Thị Điểm. Đồ ăn cũng ngon nữa. So với Đà Nẵng thì Huế chẳng thay đổi gì mấy, nói cho đúng thì bờ Nam có khác ít nhiều, còn bờ Bắc thì gần như vẫn vậy."

    Tôi giật thót người, trời ơi, sao một người con của miền Nam chỉ mới hai lần đặt chân lên mảnh đất cố đô - nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, nơi nuôi nấng tôi hơn hai chục năm qua - lại có thể có một cái nhìn tường tận đến như vậy. Nếu đặt trường hợp ngược lại là tôi, nếu được hỏi về Nha Trang hay bất cứ một thành phố nào khác, tôi e rằng mình sẽ chẳng biết phải nói gì, mở lời như thế nào, có chăng thì cũng chỉ vật vờ ấp úng mấy cái kiến thức phổ thông trong sách báo cho qua chỉ để gọi là lấy lệ. Có một cảm giác gần như được gọi tên là xấu hổ bắt đầu xâm chiếm lấy toàn bộ cơ thể tôi.

    Chú Thuần năm nay đã ngoài lục tuần nhưng vẫn thường xuyên cùng vợ đi du lịch rất nhiều, không những trong mà còn ngoài nước. Và có lẽ ở mỗi nơi mà chú có dịp ghé thăm dù chỉ ngắn ngày đi nữa thì bản lĩnh và sự từng trải vẫn cho chú một sự đánh giá không thể nào chính xác hơn về vùng đất và con người ở đó.

    - "Ồ chỗ này có mấy cái thác nước phải gọi là quá tuyệt, ồ thành phố kia đường sá, nhà cửa, cao ốc quy hoạch khá lắm..."

    - "Ở Mỹ đây đồ ăn đồ uống thì không có thiếu. Mỗi chợ lại có một mặt hàng, một sản phẩm đặc biệt ngon hơn ở các nơi khác. Ở Sacto (Sacramento - thủ phủ của tiểu bang California, Hoa Kỳ, gọi là thủ phủ (capital city) vì nó có nhiều cơ quan hành chính, nhưng trên thực tế, khá ít người biết đến thành phố này) cũng có nhiều chợ của người Việt Nam, còn mấy chợ Mỹ, nào là Bel Air, Safeway, Walmart, Costco (một chợ chuyên bán hàng sỉ với giá rẻ hơn ngoài thị trường)... thì quá trời là thực phẩm, đi một vòng đã thấy no rồi."

    Chợt tôi nhớ đến một cảnh trong một bộ phim từng xem có tên là "Lady Bird" (một bộ phim hài – chính kịch do Greta Gerwig đạo diễn và viết kịch bản được phát hành vào năm 2017).

    - "So where are you from?"

    - "Sacramento"

    - "Oh sorry?", người hỏi ngẩn ngơ ra chiều khó hiểu.

    - "San Francisco", một sự thất vọng đi kèm với vẻ chán chường xuất hiện trên khuôn mặt của nhân vật nữ chính.

    - "Oh, I see, it's a worth living city!" (tạm dịch: Ồ, đó quả là một thành phố đáng sống!")

    Cô thở phào, nghĩ thầm trong đầu "Tôi biết ngay mà, chẳng ai biết Sacramento là cái chỗ nào đâu, đáng ra từ đầu tôi cứ nói dối vậy luôn cho đỡ mất công đi, giờ thì sao, buông tha cho tôi được rồi chứ hả?".

    Nếu ngay ở trên tiểu bang Cali, người dân địa phương còn chẳng hề để tâm mà biết tới cái thủ phủ của nó, vậy thì liệu người nước ngoài có từng nghe đến sự tồn tại của một thành phố miền Trung nhỏ bé, mang trong mình nhiều trầm mặc, hoài cổ, xứ kinh kì của nước Việt một lần nào?

    Ở Huế có câu ca dao:

    "Chiều chiều ra chợ Đông BaNgõ về hàng Bột, trông ra hàng ĐườngNhìn mai, ngắm liễu, xem hườngCô nào đẹp nhất xin nhường cho tôi"

    Dù cuộc sống có xoay vần, công nghệ có phát triển dữ dội hơn mấy chục năm vừa qua, người Việt Nam nói chung và người Huế nói riêng vẫn giữ thói quen đi chợ để lo việc bếp núc trong gia đình. Bởi ra chợ vừa chọn được thực phẩm tươi ngon trong ngày, vừa rất thường hay được gặp lại người quen cũ rồi xởi lởi chào nhau hỏi chuyện, vừa được tha hồ mặc cả với người bán (dù không biết có được hay không, dù thấy giá đó đã là quá rẻ nhưng vẫn muốn nài nỉ thêm vì quen rồi, dù được ít hay nhiều, vì tiết kiệm được năm trăm hay một nghìn đồng cũng đủ trả tiền gửi chiếc xe đạp cà tàng cho bác bảo vệ)... Các bà, các mẹ, các chị nào muốn tiết kiệm thời gian thì chỉ thường lui tới ở những quán quen vì có thể yên tâm về chất lượng mà lại không sợ bị hớ (mua một món đồ với giá thành cao hơn so với giá trị thực của nó). Danh từ siêu thị (super market) nói chung chỉ dành cho những khu trung tâm thương mại, mua sắm nhiều tầng khang trang, sạch sẽ (bước đi không cần phải nhón gót nhẹ chân, xăng ống quần vì sợ văng đất văng cát, văng cả máu me của cá tôm dưới sàn lên ống quần). Nhưng hóa ra, cái mà ta gọi là siêu thị đó còn nhỏ chưa tới một phần mười cái mà người Mỹ gọi là chợ (market). Tiền của nước mình cũng vậy, nghe thì to lắm, đồng nào đồng nấy cũng phải ba bốn chữ số không ở đằng sau trở lên thì mới chịu, mà kì thực khi đem ra trao đổi ở thị trường ngoại tệ, đau lòng bao nhiêu khi biết nó đứng vị thứ nào từ trên xuống dưới?

    Chú đến chơi đúng lúc tôi đang loay hoay rửa dọn mấy cái chén bát và luộc một ít bún khô ở dưới bếp.

    - "Chà, đúng là con gái Huế có khác, một dạ hai dạ, nhẹ nhàng quá chừng!"

    Dạ, đúng rồi chú ơi, mà cũng nhờ có chú nhắc vậy con mới lại bàng hoàng thấy tiếng nói quê hương mới ngọt ngào, thân thương làm sao. Gần nửa năm sống ở xứ người, mỗi ngày đều chăm chăm nghe ti vi, báo đài cho quen với ngôn ngữ của nước họ, suýt chút nữa thì con đã quên mất cái hay cái đẹp của từng con chữ, thanh âm đã thuộc nằm lòng từ thuở ấu thơ.

    Từ nhỏ đến lớn, con luôn được dạy rằng người lớn nói gì cũng phải gọi dạ bảo vâng, nào có dám nửa lời nói không bao giờ, chứ chưa tính đến chuyện tỏ thái độ hay lớn tiếng cãi lại để bảo vệ cho ý kiến của mình. Nhưng mà chú biết không, khi mà thậm chí người lớn trong gia đình cũng tỏ ra quá ích kỉ, hẹp hòi, thì e rằng lối giáo dục đó đã làm thui chột ý chí của con, khiến nó chết dần chết mòn theo từng ngày buồn đằng đẵng trôi đi. Vì con chỉ biết đáp "Dạ" cho xong khi một người cô một năm về thăm một lần yêu cầu con đừng tự động dọn dẹp đồ đạc để cất thêm áo quần của mình vào mấy cái hộc cũ, chỉ được dùng duy nhất một cái tủ con con kế bên, phải giữ cho căn phòng y như lúc ban đầu, phải dọn ra ngoài phòng khách ngủ để lúc con bé con của cô hè về thăm chơi, nó cảm thấy thoải mái, vì đó là kỉ niệm, là tuổi thơ của nó. Cô ơi là cô, vâng, như vậy thì quả là rất tốt, nhưng chỉ là tốt cho con của cô thôi, còn con, cũng là đứa cháu ruột, là đứa con gái út của người anh chắc là không mấy tử tế gì của cô thì sao, có quá đáng với nó lắm không? Một thân một mình vượt nửa vòng Trái Đất qua đây, không mẹ, không chị, những tưởng cũng sẽ vui mừng hạnh phúc vì được đoàn tụ với ông nội cùng các cô mấy chú, một con bé chịu nhiều thiệt thòi vì ba mẹ sớm ly hôn từ lúc nó mới học lớp hai, con bé đó không tội nghiệp sao hả cô? Tiền bạc quả là rất quan trọng trong cuộc sống, có nó người ta mới có thể thỏa mãn các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở được. Nhưng tiết kiệm quá thể (nói trắng ra là bần tiện) thì có thể dư giả ra được đồng nào không? Con bật điện, ngồi trong góc đặt cái đệm hơi cắt tỉa lại mấy cái móng chân đã dài ngoằng cũng là phung phí. Cô kêu con tắt điện đi, ra chỗ sáng mà ngồi, nhưng chỗ sáng thì nào đâu có tiện cho con làm một việc cá nhân như thế. Không lẽ cô không hiểu được là ở mấy chỗ sáng mà cô nói đó thì con phải ngồi bệt dưới đất và ngay chỗ đi ra đi vào của mọi người sao hả cô? Nhưng, cuối cùng, con lại "Dạ" rồi ngoan ngoãn làm theo lời cô, thôi thì lâu lâu ngồi không đủ ánh sáng cũng chẳng sao, để cho mắt căng ra điều tiết quá độ một chút cũng không ảnh hưởng tới thị lực gì nhiều lâu dài được. Thường ngày, đối với tất cả mọi người, con thấy cô quả là một phụ nữ trung niên rất chín chắn và hiểu chuyện, nhưng sao với con, cô lại cứ phải hóa thân vào một vai diễn phản diện nào khác, nông cạn và hẹp hòi quá đỗi?

    Người Huế không ồn ào, náo nhiệt, luôn giữ cho mình một lối sống từ tốn, ngồi uống cà phê với anh em bạn bè cũng phải ngâm nga ca kệ đủ thứ trên trời dưới đất từ sáng đến trưa, khiến cho một số chủ quán phát tức đến nổi quạu nhưng cũng không thể làm gì được. Dù một bộ phận không nhỏ dân Huế cũng hối hả chen chân vào Sài Gòn làm ăn sinh sống, nhưng đó chỉ là vì miếng cơm manh áo bắt buộc vậy; chứ nếu lại được lên xe, bắt tàu về quê, sẽ vẫn chẳng ai có thể hối thúc họ nhanh lên một chút nào bao giờ. Người Huế sống chậm, nhưng không thâm. Thế cho nên trai tráng trên khắp dọc miền Tổ quốc ai ai cũng đều muốn cưới về cho mẹ cha một nàng dâu xứ sở thần kinh, vừa hiền dịu, duyên dáng với tà áo dài thắt đáy lưng ong, với vành nón lá bài thơ nghiêng nghiêng trong gió, vừa nết na, thùy mị. Những phẩm chất đẹp đẽ ấy đâu cả rồi, sao con không nhìn thấy trong cô, hay tại cô sống quá lâu ở Mỹ, hơn hai mươi năm qua chưa từng về nhìn lại Đại Nội, cửa Ngọ Môn, nên vô hình trung đã hòa tan theo cái lối sống quá ư cá nhân hóa của nơi chốn phồn thịnh, giàu có về mặt vật chất mà thiếu đi tình người này. Vì trời mưa lâm thâm, ngồi lái xe bên trong chiếc ô tô hiệu đắt tiền (có thể xem như ngôi nhà mini di động) được che chắn bốn bề, cô vẫn kêu van ướt át. Thử hỏi liệu cô có còn nhớ tới tháng chạp âm lịch năm nào lạnh đến nỗi cắn ngón tay không ra máu, cô đội mưa đội gió, đội luôn cái áo mưa tơi đạp xe đi học trên đường làng đầy bùn non làm bẩn hết cả tà áo dài độc nhất đã úa vàng cũ kĩ?

    Lại nói về chú Thuần và sáng hôm đó, cuộc trò chuyện ngắn ngủi chỉ chừng dăm ba phút của hai người đàn ông xa lạ đã cho tôi một sự bình yên đến lạ trong tâm hồn, một liều thuốc an thần cho con chim nhỏ không bầy đàn, cô độc những lúc quay quắt, chới với đập cánh để tìm cho mình một hướng bay đúng. Nhờ có chú, bóng dáng quê hương lại được khơi gợi lên trong tôi với bao la hoài niệm xen lẫn tự hào khó tả. Đặc biệt thay, tôi còn thấy hình ảnh phản chiếu của mình thêm phần đẹp xinh, lấp lánh qua đôi mắt chú đen trong, sâu thăm thẳm như mặt hồ rộng nhưng êm đềm không chút gợn sóng. Một phiên bản vẫn là của tôi nhưng rất khác so với khi được xuyên thấu và hấp thụ bởi những lăng kính đã mờ đục, những vết nứt mới và cũ trên đó chồng chéo nhau làm tấm thân tôi trở nên biến dạng, thô kệch, xấu xí đi quá nhiều.

    Nhưng rút cuộc thì như Lỗ Tấn cũng đã từng nói "Trên đời này làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi." Tôi của hai mươi hai cái xuân xanh đã từng trăn trở đến điên cuồng với cái suy nghĩ rằng không có một nơi nào là miền đất hứa cho tất cả mọi người trên thế giới này, con người muốn có cơ hội thì không có sự lựa chọn nào khác ngoài cách tự bản thân mình phải biết cố gắng. Thế nên việc ở đâu không quan trọng, cái quan trọng là nằm ở chính mỗi con người, vì nếu nội lực đủ mạnh thì có lo gì ngoại lực yếu kém. Lý thuyết là mỗi con người trưởng thành phải tự quyết định và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Tuy nhiên, cuộc sống của cái nhân loại ngày luôn không thể tách rời khỏi mối quan hệ với gia đình, bạn bè, xã hội..., và đó là lý do dù thâm tâm chỉ muốn quay về quê cha đất tổ, thì hiện tại, và cả tương lai nữa, sự lựa chọn của tôi vẫn sẽ là ở lại đất nước hợp chủng quốc này cho đến khi nào đủ lông đủ cánh, với quyết tâm học tập và làm việc cật lực, cùng niềm mong ước sớm có thể "ổn định", dù giờ tâm trí đã thôi hết ngây thơ để biết khó lòng có thể định nghĩa được hai cái chữ đó, vì nó thay đổi chóng vánh qua từng giai đoạn, từng cách nhìn nhận về thế giới quan đặc thù của mỗi cá nhân.

    Thời gian thấm thoát thoi đưa, ấy thế mà đã gần đến dịp Tết âm lịch cổ truyền rồi chứ chẳng chơi, lòng tôi không thể không rạo rực khi đọc đến từng trang sách trong cuốn tuyển tập "Văn minh Việt Nam" của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên nói về việc thờ cúng tổ tiên, các tục lệ ăn trầu cau của ông cha ta thời xưa, các mâm cơm cúng đầm ấm những ngày đầu năm mới... Chạnh lòng nhớ đến ngôi nhà cũ rồi hỏi thầm "Mẹ ơi, năm này con không về, mẹ liệu có buồn nhiều không?"

    Thật lòng mà nói, lúc mới trông thấy chú Thuần, một người đàn ông không mấy ăn vận cùng mái tóc luống màu muối tiêu không chải chuốt, tôi không nghĩ chú thuộc gia đình loại khá giả gì chứ đừng nói đến chuyện thuộc tầng lớp thượng lưu. Mãi đến mấy hôm sau mới biết rằng chú sở hữu một mảnh đất thuộc trung tâm thành phố rộng đến mấy hecta, một phần là xí nghiệp cơ khí của chú, phần còn lại chú cho xây các khu nhà để người ta đến mướn đặt văn phòng, trụ sở, tôi thật sự bất ngờ, tự dặn lòng sẽ không bao giờ "nhìn mặt mà bắt hình dong" thêm một lần nào nữa.

    Bản thân tôi đã từng đinh ninh là chỉ việc sống mộc mạc bình dị, trời sẽ không bạc ta, bởi lẽ ông cha mình đã dạy rồi "Trời đãi kẻ khù khờ". Giờ nghĩ kĩ lại mới phân vân rằng liệu có đúng như vậy thật không, hay phải có phúc trời cho thì mới sống an nhiên được, vì nếu không thì làm sao không gian manh, mưu mẹo mà có thể chống chọi nổi trong cái thời đại hỗn mang thật hư đảo điên hết cả lên này. Nhưng suy cho cùng thì, dù một người tốt số đến bao nhiêu mà tâm lại không thể tịnh, thì có khi nào vươn tới được một cuộc đời chân phương đẹp đẽ bao giờ, phải không chú Thuần?

    ----Hết----

    Baibua

  • Giấc mơ và tỉnh thức

    "ĐỪNG TỪ BỎ " – là câu thần chú của Sam – một sinh viên chuyên Văn, thích viết lách, đam mê dạy học, không quá tệ với tấm bằng Đại học trong tay và hơn hai năm nằm nhà hóng nắng, nghe gió thở than.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Trời ạ! Làm cách nào để tưởng tượng được con người còn đang độ tuổi trẻ nhiệt thành tươi đẹp ấy đã âm thầm chết dần trong ngần ấy thời gian không dài nhưng cũng không ngắn đó mà chẳng ai phát hiện ra để đem chôn cất nhưng rất may vẫn còn tồn tại một cơ thể biết động đậy điều đó có nghĩa là nếu trái tim lại một lần nữa được đánh thức và bộ não tỉnh giấc thì sự sống mới sẽ bắt đầu sinh sôi tốt hơn từ chính thể xác khô cằn kia.

    Tốt nghiệp ra trường với duy chỉ một tấm bằng làm từ giấy cứng và hành lý đựng vào chiếc balo đời đó là tất cả ước mơ, lý tưởng. Để rồi bầu trời trong xanh từ từ chuyển qua một màu nâu sậm nếu không muốn nói là đen đúa hoàn toàn. Cuộc sống mới của Sam bắt đầu với chiếc balo đời mục ruỗng. Mỗi ngày đều vật lộn với những cuộc tìm đường, những túi hồ sơ xin việc, những cuộc phỏng vấn chỉ để mong tìm được một công việc phù hợp chí ít có thể kiếm ra tiền tự nuôi sống bản thân. Nhưng sự đời không như mơ, công việc nào phải bài thơ kiệm lời. Quả thật cơm áo không đùa với khách thơ mà! Trong quá trình tiềm kiếm ấy Sam cứ mãi miết, mãi miết đi,... cô cũng không rõ bản thân mình cần gì và đang tìm gì trong bao la sâu thẳm này.

    Hôm nay như thường lệ, một ngày mới bắt đầu với khoảng trời xanh dịu mát, vài đám mây đã thức giấc từ rất sớm đang bay lượn chơi đùa cùng nhau. Sam đeo chiếc balo vừa đủ cũ kĩ cùng năm tháng, nó được mang về từ Huế khi Sam đi thực tế cách đây năm năm, màu sắc của nó như màu cuộc sống Sam bây giờ hoàn toàn đen đúa nhưng rất may người làm ra chiếc balo ấy cũng đã khéo léo may thêm vào đó một trái tim màu xanh ngọc mát rượi. Trong đó chứa vài bộ hồ sơ xin việc, một chai nước lạnh Sam mang theo nhỡ trên đường đi khi khát có mà uống vì Sam đã không còn chi phí để ăn một bữa sáng đàng hoàng nữa. Sam chỉnh tề với chiếc áo sơ mi trắng, quần tây đen và một đôi guốc cao, thú thật lúc mang guốc vào di chuyển với Sam có vẻ mệt nhọc nhưng mà nhà tuyển dụng thì tuyển nào là ngoại hình, nào là chiều cao mà Sam là một con nhỏ lùn còi nên đành phải ngụy trang thêm đôi guốc để trong dáng mình có vẻ dễ coi hơn. Rời khỏi nhà lúc 6h30', và cứ thế Sam đi qua con đường quê dài ngoằn đã được trán nhựa lán bóng, phía trước là một con sông không quá rộng, phía sau là các khu nhà thấp le te trải dài san sát nhau, sau nữa là những cách đồng lúa vàng rực, phản phất hương thơm thoang thoảng của mùi lúa chín.

    Băng qua đoạn đường quê nhỏ đó Sam ra con đường lớn, trái ngược hoàn toàn với khung cảnh yên bình lúc nảy, ở đây xe cộ ồn ào, tiếng còi in ỏi, Sam đứng ở trạm xe buýt đón chuyến xe thứ hai như mọi khi. Như thường lệ, Sam ngồi ở chiếc ghế thứ ba cạnh cửa sổ. Hôm nay ngoài trời có mưa nhẹ, qua khung cửa kính của chiếc xe Sam thấy cuộc đời con người như vội vã hơn và đang lướt qua một cách vùn vụt như chuyến xe đang chạy này. Đến đèn đỏ xe dừng lại, Sam thấy những con người đang tất bật ngược xuôi trên con đường mưu sinh là chú bán vé số đang đội mưa mời khách, là chị bán hàng rong đang vội vội vàng vàng quảy gánh hàng trên vai để trú mưa, là một bạn đang đứng phát tờ rơ nhưng bị một vị khách phủi tay gạt đi, có thể bạn ấy là sinh viên muốn kiếm thêm thu nhập để trang trải cho việc học, bỗng chạnh lòng như có một mối dây đồng cảm với bạn ấy vì Sam cũng từng như vậy.

    Âm thanh từ chiếc máy hát nhạc của bác tài bật lênHạt bụi nào hóa kiếp thân SamĐể một mai vươn hình hài lớn dậyÔi cát bụi tuyệt vờiMặt trời soi một kiếp rong chơi...Bao nhiêu năm làm kiếp con ngườiChợt một chiều tóc trắng như vôiLá úa trên cao rụng đầyCho trăm năm vào chết một ngày...

    Đó là bài "Cát bụi" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ôi! Sao mà giờ phút này đây, nghe những ca từ đó lại tê tái cả cõi lòng, thấy có gì như quặng thắt nơi tim. Và rồi phút chốc Sam phát hiện một nửa hồn của mình đang tìm kiếm mình sinh ra ở thế gian này vì lẽ gì và nửa kia đang đấu tranh vật lộn với sự sinh tồn khốn khó trong cái xã hội này.

    Xe ngừng lại, đếm trạm xuống của Sam, vậy là hôm nay lại là một ngày vật vã nữa đây, Sam thầm nghĩ vậy. Hôm nay có bốn công ty, một công ty được bạn bè giới thiệu, hai công ty Sam tìm thấy trên trang tuyển dụng và một công ty Sam đọc được trên báo. Vậy là cứ thế mà làm, Sam đi đến từng công ty đã được lên lịch sẵn. Sau những hồi hộp, đợi chờ, hy vọng, cuối cùng câu trả lời nhận được là "chúng Sam sẽ thông báo kết quả cho bạn sau".

    Đôi chân dường như không còn cảm giác sức lực nữa, nhích thêm một bước cũng thấy khó khăn vì cái nắng chói chang của mặt trời thiêu đốt mệt nhoài Sam ngồi bệch xuống ven đường gương mặt phờ phạt nhìn dòng người qua lại, một chiếc lá vừa chao qua trước mặt rơi một cách thật khẽ xuống mặt đường đầy bụi, trong nó có vẻ úa vàng chắc vì thế mà không bám trụ vào thân cây được, nó giống số phận con người nhỉ. Nhặt chiếc lá lên Sam khẽ mỉm cười. Sam cứ lang thang bất định như vậy mà đi, cuối cùng không biết bản thân đã đi qua bao nhiêu con đường, đến bao nhiêu nơi chỉ biết là trời đã Sam, Sam lại ở trong góc phòng quen thuộc của căn nhà mình. Sam chẳng buồn ăn, cứ thế ngã người lên giường, khẽ một hơi thở dài, bỗng chuông điện thoại reo vang, bắt máy Sam nghe giọng trầm ấm của một người phụ nữ ở đầu dây bên kia thì ra Sam đã được nhận vào làm, đó là cuộc gọi thông báo Sam đã đậu phỏng vấn, cuối cùng cũng đã tìm được một công việc văn phòng ở một công ty quy mô có danh tiếng. Vui mừng, Sam nhảy chân sáo trong phòng mình.

    Mỗi sáng đều ăn mặc đẹp, trang điểm thật xinh vào rồi đến nơi làm việc, Sam nghe thấy tiếng mọi người xì sầm có vẻ vừa ngợi khen, vừa ganh tỵ thì phải.

    Bà tư bán chuối chiên bảo với bà bảy đang đứng mua đồ:

    - Con Sam nó như vậy mà giỏi quá được làm việc ở một nơi sang trọng như thế ai như con nhà mình làm cái công việc lương ba cộc ba đồng ở một chỗ không có tiếng tăm gì.

    Bà bảy đáp lời:

    - Ước gì con mình cũng được như vậy bà hé.

    Nghe những điều đó Sam hãnh diện vô cùng, cô lấy làm kiêu hãnh ra mặt vì thế cô quyết tâm làm việc chăm chỉ hơn, dù có mệt mỏi cũng ép bản thân như một con robot cứ thế mà làm không ngừng nghỉ, hằng ngày chạy đua với mấy con số thống kê đến nỗi đầu óc quay cuồng. Sam không thích công việc đó một tẹo nào ngoài việc trả lương cao và là nơi biết bao người mơ ước, và cô ấy nghĩ nếu mình nghĩ việc ở đây chắc gì đã tìm được một việc khác tốt hơn, mọi người sẽ không còn ngưỡng mộ mình nữa, họ sẽ nói là mình bị thần kinh vì xin nghĩ ở một nơi làm tốt như thế, nghĩ đến đó Sam lại tiếp tục lao đầu vào làm việc, chạy đua với những con số. Nhưng cô ngày một mệt mỏi hơn, lúc nào cũng cảm thấy bực dọc không vui.

    Về đến nhà Sam liền hỏi cơm đâu, hôm nay mẹ cô ấy quên không nấu cơm hay đã đi ra ngoài rồi. Cô ấy gọi mẹ ơi mà không thấy ai trả lời thế là cô ấy cáu gắt, quẳng đồ đạc lung tung, mặt mày cao có đi thẳng vào phòng. Hơn nửa năm làm công việc đó dường như Sam cũng thay đổi rất nhiều đến nỗi cả cô cũng không còn nhận ra chính mình. Lúc trước Sam rất hiền tính chưa bao giờ nổi giận hay cáu gắt, hơn nữa hai mẹ con Sam còn thường xuyên nấu cơm, học làm bánh cùng nhau, thế nhưng từ lúc đi làm ở đó đến nay cô rất ít khi ăn cơm với mẹ mình, ngồi vào bàn ăn thì mang theo cả đống giấy tờ để xem, bàn ăn trở thành bàn làm việc, cả một câu hỏi thăm nhau cũng không có mẹ con gần nhau ở không gian địa lý nhưng tâm tình thì ngàn vạn dặm cách xa. Bà Đông – mẹ của Sam cũng không trách mắng gì cả, chỉ lặng lẽ thu dọn bát đĩa, rồi khẽ khàng vào phòng con gái những lúc Sam ngủ quên để đắp chăn cho cô ấy, bà đứng lặng đó ngắm nhìn cô, một nụ cười hiền dịu khẽ hiện lên và một giọt nước từ mắt bà cũng vừa rơi xuống nóng hổi rồi bà trở về phòng mình với nét mặt xanh xao. Những điều đó Sam điều không biết.

    Nhưng hôm nay bà Đông đi đâu rồi, Sam cứ cau có liên tục vì quần áo chưa ai xếp để vào tủ, bộ đồ đi làm của cô cũng chưa được ủi thẳng thớm.

    Cạch...cạch...cạch tiếng gõ cửa nhà Sam, vừa bước ra thì thấy cậu bé hàng xóm hớt ha, hớt hải bảo: "mẹ chị đi chợ ngất xỉu ở đó, người ta đưa mẹ chị vào bệnh viện rồi nhưng cả ngày hôm nay gọi chị đều không bắt máy, còn đây là sắp vải mẹ chị mua nhưng chưa kịp lấy, người bán hàng gởi lại cho chị." Nước mắt chảy dài hai bên má làm nhòe tầm nhìn của Sam, cô đứng chết lặng vài giây rồi vội vàng lao nhanh đến bệnh viện. Khắp người mẹ cô đều gắn các thiết bị trợ bệnh, nào là bình oxy, nào là dây truyền nước biển. Bác sĩ không cho vào phòng cấp cứu. Sam đứng bên ngoài cửa kính nhìn vào, tim cô đập như muốn nhảy cả ra ngoài, tay chân lạnh cóng không di chuyển nỗi, qua ánh mắt nhòa lệ cô bỗng thấy mẹ mình đã ốm đi rất nhiều, đôi mắt hốc sâu, da nhăn nhúm cô ôm mặt khóc nức nở. Hồi sau có một vị bác sĩ bước ra khỏi phòng, Sam vội chạy ngay đến vị bác sĩ, chưa đợi Sam nói gì ông bác sĩ kia liền hỏi: "Đây có phải là người nhà của bệnh nhân không?". Dạ phải, dạ phải - Sam vội đáp lời. Mẹ Sam sao rồi bác sĩ, bà ấy thế nào rồi, bác sĩ...bác sĩ nói cho Sam biết đi? Một tràng câu hỏi từ Sam nhưng đổi lại là một gương mặt đượm buồn của vị bác sĩ kia và câu: "Bà ấy bị ung thư do không được phát hiện và chữa trị kịp thời, bệnh tình đã qua giai đoạn cuối. Xin lỗi chúng Sam đã cố gắng hết sức. Người nhà có thể vào gặp mặt lần cuối." Cô quỳ sụp xuống, trống rỗng tê dại hoàn toàn với câu nói đó.... cô bỗng thèm được nghe mẹ nói, được ăn cơm cùng mẹ, được cùng mẹ làm bánh, xem tivi... tất cả những hình ảnh về mẹ cùng lúc ùa về như sợi dây thắt chặt lấy tim Sam.

    Reng...reng...reng tiếng báo thức vang liên hồi, giật mình tỉnh giấc nước mắt vẫn còn đầm đìa trên gối, cô lao vội đến phòng của mẹ không thấy bà đâu, cô vội chạy xuống bếp nhìn thấy mẹ đang nấu bữa sáng, chạy đến phía sau mẹ, Sam ôm chầm lấy mẹ mình cô thở phào nhẹ nhõm như người vừa tìm lại được điều gì quý giá. Gió bắc ùa vào căn nhà bé nhỏ, cơn gió sớm xuân se lạnh ấy hôm nay ấm áp và thoang thoảng vị bình yên đến lạ thường.

    Xuân Phong

  • Lũ đời

    "Chiều nay mưa trên phố HuếKiếp gian hồ không bến đợiMà mưa sao vẫn rơi rơi hoàiCho lòng nhớ ai..."

    Không biết dẫu vô tình hay hữu ý mà nhà bà Ba cứ văng vẳng tiếng nàng ca nương da diết. Siêm ngồi đây, đôi môi mím chặt, tay tỳ trên mép cửa sổ. lặng người theo dư âm còn lại. Cha mạ ơi, răng mà đời giang hồ nó khổ! Đời nó nhẫn tâm! Và chị cũng đành não nùng đến là vậy.

    Đêm tối lại buông màn. Chị khẽ nhìn lên vệt sáng mong manh trên tận nền trời. Sao mà lại quá xa xôi! Chị ước mình có thể với tới chúng bạn lấp lánh ấy. Chị muốn hòa vào lòng trời, rời xa cái cuộc sống chồng chất những lo toan, những nặng nề và cả sự tăm tối trong chính ngôi nhà của mình.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Cái lành lạnh của mưa đêm đêm ôm lấy tấm thân bé nhỏ của người con gái tội nghiệp, và đưa chị vào miền thiên thai hoài niệm. Mười mấy năm trước, khi Siêm còn là cô gái quê không hơn không kém. Gia đình chị sống ở một miền duyên hải khô cằn, sỏi cát. Con gà con cóc chỉ biết kiếm ăn trên từng tảng đá chai sần. Còn gió mưa thì đã rửa trôi đi dáng vẻ yên bình trên từng khóm lúa, bờ ngô. Cô bé Siêm lọt thỏm giữa những bãi bể nương dâu. Căn nhà tranh thấp bé, tạm bợ trở thành nơi nương nấu cho năm con người. Ba chị ngày ngày bán từng bọc sữa đậu nành. Chiếc xe sữa của ông băng qua từng buổi chợ náo nhiệt. Vừa lên đôi mươi, Siêm làm thuê cho một xí nghiệp chăn nuôi gia cầm ở trong Nam. Cô bỏ quê ra đi vì sợ cái nghèo, cái khổ. Nhưng trốn chạy mãi liệu có được chăng, khi nơi đây, đất khách quê người, một mình cô, một cô gái bé nhỏ, đương đầu với sự đời đầy tréo ngoe, lắt léo.

    Cánh chim trời lặng lẽ bay vào Nam tránh rét đánh thức Siêm dậy giữ giấc mộng xưa. Mồ hôi mồ kê nhễ nhại trên trán, trên lưng và cả trên nét mặt thất thần của cô gái trẻ.

    Vừa tờ mờ sáng, bà chủ nhà đã qua gõ cửa. Trong căn phòng nhỏ, những vệt sáng xuyên qua ô cửa sổ rọi lên đôi mắt lim dim. Chị gượng mình dậy đầy mệt mỏi.

    - Có gì không cô Tám? Mới là rằm mà, cô thư thư cho con đến rằm con gom góp tiền trả cô được không cô?

    - Ba tháng rồi đó cô nương, cô mau mau trả cho tôi đặng tôi còn sửa sang lại đường ống nước. Hổm rày nước khu này cứ chật vật, lại thêm điện tăng, gạo tăng, giống gì cũng tăng. Thư cho mày cả một mùa rồi còn gì con? – Bà Tám nhăn mặt

    Siêm gật đầu trừ rồi vào phòng. Thế là hết một buổi sớm tinh khôi. Vừa mở mắt ra, chưa chi chị đã ăn lấy ca nước lạnh của miệng đời. Mà đời thì đâu phải là mơ, và chị cũng chẳng phải là công chúa ngủ trong rừng sâu thẳm. Khi ông mặt trời đường bệ bê mâm cổ đỏ hồng đằng đông, nàng công chúa bước ra cung điện, thả hồn vào muôn vạn sắc hương. Công chúa lướt trên từng lớp cánh hoa rơi, tay nâng niu vài giọt hương sắc nồng nàn. Nhưng tiếc thay khi cánh hồng phai màu dần đi lại nhẫn tâm kéo Siêm nhanh chóng khoác lên bộ áo công nhân tươm tất đến xí nghiệp. Mặt đường nhựa nóng rát da nằm im dưới bánh. Siêm ăn tạm vài ba ngàn đồng xôi, vội vội vàng vàng hơn cả đèn đỏ.

    Xí nghiệp nơi Siêm làm là một xí nghiệp chăn nuôi tầm trung. Với chút kiến thức phổ thông, chút đỉnh tiền cầm theo, chị xin vào được đây đã là một diễm phúc lớn. Ngày ngày chị quấn quít với lũ gà công nghiệp. Chúng tâm tình với nhau bằng thứ ngôn ngữ đầy kì hoặc. Cô gái công nhân cũng cố gắng hòa nhịp với lũ bạn lông vàng. "Chíp...chíp chiu chíp" dần hình thành nên những bản hợp âm vui tay. Mà cũng chả có gì vui, toàn là những tạp âm đan hòa vào nhau trong phút ngẫu hứng thế thôi. Nhưng biết làm sao được, ở đây chỉ có lũ gà xem cô gái tên Siêm này là bạn. Người ta chê chị thất học, lặn lội vào tận trong Nam này kiếm kế sinh nhai. Người ta ỷ quyền bản xứ mà bỉu môi cô gái tội nghiệp này. Chị thèm bữa cơm gia đình với ba má, với chị và thằng em nhỏ. Chị thấy mình thật nghèo, thật thật nghèo, nghèo rớt mùng tơi, nghèo đến độ chẳng có gì, cả một gia đình để đi về sớm hôm cũng không. Chị chỉ có lũ bạn vô thức lông vàng này. Chị cố lắng nghe câu chuyện giữa chúng như nhà phiên dịch thực tài. Câu chuyện cứ kéo dài luyên thuyên bất tận, và đôi mắt huyền vẫn dõi theo đôi mỏ nhỏ xinh.

    Lúc nào cũng vậy, đời quay Siêm như chong chóng mà phận nghèo nào cho phép chị ngơi tay, chóng mặt.

    Một buổi chiều lại kéo mây. Siêm ba chân bốn cẳng trở về nhà. Đường tan ca giờ này đông lắm. Kẻ mua người bán hai bên đường cứ đua nhau léo nhéo. Xe máy nối đuôi nhau, nườm nượp, nườm nượp từng đoàn. Chiếc cánh én của Siêm cũng bon chen vào trong ấy, giống như cách chủ nhân nó lăn xả vào cuộc đời. Ánh nắng yếu ớt như đang dần dần khuất sau dãy nhà cao tầng cuối phố chào đón nét rã rời trên khuôn mặt kẻ lang thang. Siêm vừa đợi chờ lấy ngọn đỏ xanh, lòng lại lại vừa nao nao chút tình thân mật.

    "Ta hỏi đời, đời có thương taNếu cánh hoa tàn khi đương sắcNhư hạt cát vùi sâu lòng muối mặnTa hỏi đời, khi nào có thương taTa hỏi đời, đời chẳng hiểu lòng taKhi tiếng đêm xẻ nữa vành trăng đợiĐôi mươi qua chẳng chờ chẳng đợiTa hỏi đời, bao giờ mới yêu ta"

    Nhớ hồi còn ngoài Huế, năm lên tám, chị phải chạy đua với lũ bạn nhà bên giành lấy suất vé cuối cùng đi coi chầu văn. Hồi ấy còn ngây thơ, người đầy bê bết sình lầy cũng là trò vui hơn cả. Vài năm sau, lúc Siêm mười hai, chị đã phải chạy đôn chạy đáo kiếm tìm nơi bán nước ngọt để vượt qua nạn đói dày vò. Chu choa mà nó khổ! Kiếm được hột gạo đã hiếm, kiếm được miếng nước ngọt nấu nước uống cầm hơi còn khó hơn hái sao trên trời. Thương làm sao hết cảnh tai bay vạ gởi! Người ta chỉ biết bấm bụng mà ngủ lấy ngủ để mong quên đi ám ảnh áo cơm. Chuyện cũ đã qua, kể hoài cũng chẳng hết được. Siêm nay đã hăm sáu, sáu năm qua đã cho ra lò con Siêm đầy cằn cỏi và bản lĩnh trước đường đời còn lắm chông gai.

    Không biết ma xui quỷ khiến gì mà Siêm cứ trằn trọc cả đêm. Chuyện lũ vịt đương lớn coi như xong; chuyện tiền nong thì cứ đăng đăng đê đê ra đấy biết khi nào mới thoát cảnh ăn quán ngủ đường. Bất giác, Siêm lúi cúi lục lại đống sách vàng nâu cũ kĩ. Nhớ lại cảnh xưa kia, nhà Siêm khi ấy làm gì có tiền cho cô đi học năng khiếu tại trường. Bà Hai - mẹ Siêm cũng bận bịu ở ngoài chợ, với sạp hóa phẩm nhỏ hẹp. Cứ mỗi chiều về, ông Hai – chở chị trên chiếc xe đạp cà tàn, trên ghi-đông thì lủng lẳng ly đá me dang dở. Khoảng trời thanh xuân rực rỡ của Siêm trôi lửng lờ trong trí nhớ của cô nàng xuân sắc. Nhưng rồi một ngày bão giông chợt đến với miền quê nhỏ. Lũ lại tràn về, quét đi cuộc sống của những người dân lành. Người ta tỏa ra đi tìm chỗ ẩn nấu. Từng ấy con người chui kín mít lên ngôi chùa hoang trên mô đất phía sau trường làng. Ông Hai một mình vừa tay xách bao nhiêu là đồ đạc trên chõng hàng của má, vừa phải cõng Siêm vượt qua gió dập mưa vùi. Và có ai đâu ngờ đó là lần cuối cùng, Siêm còn được nắm tay ba.

    Cũng đã tám năm trôi qua từ cái ngày định mệnh ấy nhưng sau kí ức của Siêm vẫn luôn hiện lên như in. Nắng đang chói chang bỗng vụt tắt. Mưa tạt ngang. Giông xé toạt cả bụi chuối sau hè. Cả bầu trời đất mây đen vần vũ. Đôi chân trần choạng vạng giữa lòng nước xiết. Ba Siêm chống chọi từng cơn giông mạnh. Người chiến sĩ thuở Gạc Ma vùng lên giữa muôn trùng nước chảy. Khúc củi ven đường cũng hóa thành vũ khí hạng cao, đặt chắc vào đôi tay thô ráp. Ông gắng gượng nắm lấy gốc cây bên lề. Gió mỗi lúc mỗi mạnh. Rồi tay ông trượt dài trên dãy đất bên bờ. Ông chới với giữa dòng thủy lưu. Hắn, tên độc ác ấy gián cho ông một cú đau đớn đến điến cả người. Mảnh cây cũng rã rời theo chủ, lật nhào ông xuồng sóng dữ. Ông trở thành "con cá" trên tay gã ấy. Mặt sông loang tràn dần dòng nước đỏ thẩm kéo lấy tấm thân gầy gò của kẻ phàm phu. Trận giông hồi nãy đã cắt lìa đi đôi tay ba Siêm. Tiếng thét đớn đau vang lên xé toạt bộ giáp kinh hoàng. Phải chăng gã Sa Tăng vì thế mà hoảng hồn, chúng trao trả ông về với quê hương yên bình trong những cơn thoi tóp sau cuối! Bà Hai hay tin, vội vội vàng vàng buông ngay nồi cá đang kho, lao ngay ra bờ sông. Nhưng liệu còn kịp chăng...Đôi tay gầy run lẩy bẩy như ra hiệu cho vợ. Ông Hai gắng gượng lấy chút sức tàn cuối cùng, bứt đứt cái nút quần, lấy ra tờ hai trăm nghìn với dòng nước rưng rưng. Tiếng chồng nhỏ dần bên tai mình, bà thất thần với nỗi mất mác khủng khiếp. Chuyến đò sang sông nay đã cập bến bờ kia đưa một chiến binh về với từng tấc đất Tổ quốc.

    Bữa cơm chiều hôm ấy, buổi cơm mừng anh hai Hưng có việc mới ở xưởng giày trên thị xã, phút chốc lại trở thành tiếc nấc nghẹn của bao nhiêu con người. Lũ cuốn đi tình yêu cả đời của Siêm, cả nửa trăng non còn chưa tròn vành đậm nét.

    Siêm bồi hồi lật sang trang thứ hai...

    "Mưa đâuLặng lẽ rơiCả khoảng trờiHơi đất nồng cay mắtCó người tấp nậpVặn vẹo khúc sôngCó kẻ đợi mongDáng anh chồng đãi vàng trong cátSóng hòa lời hátHỏi gió và mưaĐã thôi chưaNhững ngày đầy giông bão"

    Siêm lặng người cho những gì đã qua. Siêm ghét lũ, Siêm hận giông như chính nỗi ám ảnh về cái nghèo trong chị bấy lâu. Trong dòng nước bây giờ chắc đã thấm đẫm dòng nhớ mang tên ba của chị.

    Những trang nhật kí đầu tiên khép vào trong dòng nhung nhớ. Nếu bây giờ Siêm còn ở quê chắc hẳn chị sẽ càng đớn đau hơn. Nhìn về dòng sông kia, về con lũ dữ dội và tàn ác, chị lại muốn xông ra đòi lại cái bình yên cho mình và cho cả những người dân cơ cực khác nữa. Ông trời nhiều khi chơi ác, chỉ vì trót sinh ra nơi đất cát mặn miền Trung mà số phận con người cứ luôn lênh đênh, dập vùi trên từng dòng nước xiết. Công bằng nằm ở đâu? Nằm ở đồng tiền! Nếu có tiền họ đã có thể dựng xây một nơi đi về vững chắc chớ đâu phải vất vơ vất vưởng, ăn nhờ ở đậu tại các khu lao động nghèo như vầy.

    Dòng lũ ấy đã xuôi vào miền Nam. Siêm trôi vô định trong dòng nước ấy. Nó quấn lấy cô gái nghèo bằng sợi dây vô tình gay gắt. Nó cứa vào da thịt Siêm, xiết chặt vào tâm hồn Siêm. Thơ đã tắt, mộng cũng dần tàn, hoài niệm chỉ còn là dĩ vãng. Siêm đâu thể ôm mãi nổi ưu tư để rồi chết lịm trong chính cơn ác mộng của bản thân. Siêm không thể quên được dáng lưng cong cong gù gù từ từ mịt mù của ba; nhưng ở nơi nào đó xa xăm, ông Hai cũng chẳng vui vẻ gì khi đời chị cứ cong vòng như khúc sông hồi trước. Siêm đâu thể trở lại quê nhà khi trong tay không đồng tiền dính túi. Ở đây, người ta khinh, người ta làm khó làm dễ nhưng có cái ăn; còn về quê, gia đình chị lại thêm một lần nặng gánh. Bà Hai ngày nào cũng trông ngóng cô con gái út nhưng nào biết đâu nó đã ra đi biệt tăm. Siêm cũng ân hận vì quyết định này lắm. Nhưng biết làm sao được,cái này là ý trời rồi, cô không phải trời nên đành phó mặc cho biến thiên nhân thế.

    Đêm. Lại đêm nữa rôi. Cái giá rét buông màn đến buốt cả chân. Cây bút của ông Hai từng tặng chị vẫn đơ ra ở đấy chẳng chút thu mình. Đêm nay, ông có đang về bên Siêm. Chị nhen nhóm suy tư: "ba chắc sẽ lạnh như cái lạnh của con răng ba? Con thèm đá me lắm rồi ba ơi?" Nhưng chắc dẫu chị có giá có rét thì cái ấm ấp ba ôm sẽ xua cả đi. Gió khẽ tạt ngang, lắc lư cái lá ngoài hiên, rồi dụi nhẹ lại ngủ sâu trên từng chồi biếc. Siêm giật mình tần ngần trước ánh trăng mờ mịt đêm nay. Gió mỗi lúc một mạnh, đánh liên hồi vào lồng ngực cô, bó chặt lấy cái bắp chuối gầy guộc. Siêm thu dọn sách vở cất vào túi, lặng lẽ trải manh chiếu mỏng ra sàn. Đêm nay sao dài quá, đã qua ba giờ đồng hồ rồi mà vẫn còn tối là vậy. Chắc có lẽ do bầu trời trong Siêm đang đen đúa quá đỗi. Trời Huế bây giờ chắc đang ngợp đầy ánh sao đêm. Và má chị, cùng các anh đang ngủ say giấc sau buổi chợ chiều vắng vẻ. Ánh trăng đêm lặng im trên nền trời cao mãi. Chốc chốc lại có ánh sáng nào chiếu tỏa vào khung cửa sổ cài then – nơi bóng hồng cô đơn đang chơi vơi lạc lõng đau đáu nỗi hoài mong "mong cho mạ trổ đòng đòng, đường về quê mẹ trải hồng cánh sen".

    Joyce Bánh Mật

  • Vũ trụ đời

    Đây là câu mà Thiện trả lời Song, khi Song bảo rằng mấy cái lòng đỏ trứng gà có màu hơi kì, rằng "Chết bỏ."

    Ấy thế là, nghe xong, Song đứng tần ngần mãi bên kệ bếp, hai tay cầm hai nửa vỏ trứng, tâm hồn thì bay chới với ở phương trời nào đó. Sau đấy, thay vì trút dầu ăn vào chảo, Song trút thẳng vào tô trứng gà chưa kịp đánh bông lên.

    Trút những nửa chai.

    ...

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Thiện xỏ dép đi mua vỉ trứng gà mới, vì những quả trứng cuối cùng đã nằm trong ống cống, chung với hơn nửa chai dầu ăn. Song ôm gối lên gác nằm, trùm mền kín người. Trời mưa lâm râm, lòng thì ẩm ướt. Song hé mền, nhìn ra ngoài cửa sổ. Gió tạt nhánh cây quét ngang khung cửa, mưa từng hạt bay đến bám trên lớp kính đục mờ, chảy xuống từng dòng.

    Mùi trứng chiên hành bay khắp căn phòng trọ nhỏ. Song quấn mền, cầm muỗng xúc từng miếng trứng thơm lừng đút vào miệng. Thiện tựa lưng vào tường, ngẩn người nhìn mưa ngày càng lúc nặng hạt ngoài cửa sổ. Âm thanh ồn ào của thời tiết thất thường bị bỏ rơi bên ngoài cánh cửa, trong đôi tai chấp chới chỉ còn tiếng nhạc không lời của Yanni lấp đầy.

    Đột nhiên Thiện khóc. Nước mắt chảy dài. Cũng không biết vì sao mà khóc.

    Lúc Song ăn hết dĩa trứng chiên, ngước lên nhìn, chỉ thấy vùng cổ Thiện ướt đẫm.

    "Chết bỏ."

    Chết bỏ cái gì, cái gì chết bỏ?

    ...

    Song nhích từng chút một giữa dòng xe đông đúc, trời âm u, gió lạnh thổi qua từng đợt. Cái áo khoác bằng len mỏng manh không làm ấm nổi cơ thể gầy gò.

    Một đoạn nữa là đi ngang qua trường cũ.

    Ấy thế mà Song tốt nghiệp được một năm hơn rồi.

    Cái đoạn đường mà mỗi chiều lại dạo bộ về nhà, balo nhún nhảy sau lưng. Đi ngang qua trạm xe bus thấy bạn học quen mặt là xáp vào tám chuyện, rồi nghe đứa kia vừa lao vội lên xe bus vừa hét lên "bye nhá". Xe bánh tráng trộn vẫn còn ở góc ngã tư, chiếm một góc bên hong cổng chùa, và những bà cô mặt bặm trợn vẫn cầm bó nhang không ngừng kèo chéo khách mua để vào thắp hương tạ lễ. Song nhắm mắt lại cũng nhớ đoạn nào buổi chiều có bà chị vừa bán hot-dog vừa quẩy thiệt mạnh cái thùng bột, đoạn nào có đôi người yêu trải bạt nhựa bán giày xả hàng đến nửa đêm, đoạn nào thì ông chú bán tim sen hay dựng chiếc Dame đỏ ngồi bán dưới gốc cây to, vừa nhịp chân theo tiếng cải lương phát ra từ chiếc điện thoại cũ mèm vừa lim dim ngủ.

    Cứ thế, tiếng hát của những giọng ca vàng một thời cùng với những vở cải lương trứ danh chìm dần vào trong tiếng đô thị ồn ào, rồi gần như mất hút.

    Song quẹt ngang mắt, trời đâu có mưa, mà sao mắt xay xè. Đủ thứ chuyện cần nhớ lại, mưa đừng ào xuống rửa trôi.

    ...

    Phòng của Thiện nhận thực tập sinh.

    Cao, ốm, tóc húi cua, mắt kính gọng đen, cười không có cái răng khểnh nào. Nhưng mà dễ thương.

    Thằng nhóc thua Thiện 3 tuổi, ngồi được một chút lại bay qua hỏi, "chị, cái này làm sao, chỉ em với". Thiện nhíu mày, cái mặt nó vẫn trơ trơ. Thiện không đổi nét, chừng phút sau nó đơ đơ rồi mếu máo. Nhìn cái dáng lủi thủi đi về chỗ ngồi mà Thiện buồn cười hết sức.

    Hồi trước làm thực tập sinh, chẳng ai chỉ bảo Thiện cái gì hết ráo. Ngày đầu thực tập, bước chân vào văn phòng không cửa sổ, nhiệt độ thấp như trong Băng đăng Đầm Sen, một đám người ngẩng đầu lên nhìn Thiện một cái rồi mạnh ai nấy cúi xuống làm nốt công việc dang dở. Có một bà chị tóc búi cao, kính không gọng trễ trên sóng mũi cao vút chẳng thèm nhìn lấy Thiện dù nửa con mắt, lạnh lùng bảo Thiện đứng đợi người hướng dẫn, mà chẳng nói chờ ở đâu, đứng hay ngồi. Rồi thế là Thiện cứ đứng cạnh cửa, không ngừng kéo áo khoác, một lần kéo là một lần siết chặt hơn, vì cảm giác như cái lạnh không chỉ quẩn quanh da thịt nữa mà bắt đầu xâm vào sau lớp vải vóc, nhập luôn vào từng tế bào da, rồi thấm vào từng nội tạng trong cơ thể. Rét buốt.

    Ấy thế mà Thiện vẫn thực tập ở chỗ đó được tròn ba tháng, tại một góc bàn nhỏ bằng 4 tờ A4 ghép lại, nằm sâu trong cùng của căn phòng dù ngày hay đêm vẫn bật đèn neon sáng trưng. Ai nhờ thì làm, ai càu nhàu thì chịu, không một tấm hình chụp chung, không một bữa ăn cùng, người giao tiếp nhiều nhất có lẽ là ông chú hướng dẫn lúc nào cũng bảo con cần gì cứ email cho chú, giờ chú phải đi họp. Ngày cuối cùng Thiện lên cơ quan, ông chú cũng phải đi họp, và bà chị tóc búi cao lạnh lùng cầm báo cáo thực tập của Thiện, uyển chuyển bước vào phòng lãnh đạo xin chữ kí cùng ý kiến xác nhận, rồi nện gót giày lạch cạch xuống văn phòng xin đóng dấu.

    Lúc đưa báo cáo hoàn chỉnh cho Thiện, bà chị đẩy chiếc kính không gọng bị trễ xuống lên cao ngang mắt, mặt không biểu tình nhìn Thiện hồi lâu, rồi bảo:

    "Chị thấy ba tháng này em ngồi nhà có lẽ có ích hơn."

    Thiện cụp mắt nhìn tờ nhận xét có hai hàng chữ "Hòa đồng, tích cực, có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, hoàn thành tốt công việc được giao tại nơi thực tập", cảm giác mình như một cái mầm nằm im bên trong lớp vỏ, lẽ ra phải phá vỏ để nảy lên, lại chọn lựa nằm im rồi chết yểu.

    Ám ảnh cái mầm chết yểu bắt đầu theo Thiện vào những cơn mơ, cùng những cơn ho sù sụ ran rát nơi lồng ngực. Thiện hay nghĩ có khi vì ngồi ở cái chốn lạnh lẽo đó những ba tháng ròng nên Thiện mới bị những cơn ho day dẳng đeo bám đến tận bây giờ, như những cái rễ gai không ngừng lan ra.

    Tan sở, thực tập sinh đi ngang qua chỗ Thiện, thả xuống một nhúm kẹo.

    "Kẹo gừng đó, thấy chị ho nguyên buổi. Ho hoài, mai tróc phổi cho coi."

    Thiện siết nắm kẹo trên tay, ngẩn người.

    ...

    Song đeo tai nghe, ngồi nghe Năm tháng vội vã. Bạn nhắn tin, khoe mới nằm viện về. Song chộp điện thoại gọi tới, bạn tắt máy, nhắn tin bảo giọng còn khàn lắm, nói chuyện không nổi đâu. Hỏi làm sao mà nên chuyện, bạn kêu rằng chốn này xô bồ quá, xô bồ nên đôi lúc đâm ra kiệt sức. Song lại hỏi sao bạn không về, bạn bảo lỡ đi rồi, phải đi cho trót, chừng nào chịu hết nổi nữa thì trở về.

    Bạn nói bạn muốn đến thành phố đáng sống nhất nước lập nghiệp. Ngày bạn đi, sáng làm lễ tốt nghiệp trên trường, chiều Song đưa bạn ra sân ga, rồi đứng nhìn bạn đeo balo to sụ đầy sách và một cái vali nhỏ bước lên tàu. Song không chào tạm biệt, vì Song tin ai vẫy tay chào sẽ không còn gặp lại người đã được tiễn đi. Bạn xa thành phố hai mùa nắng mưa mà bạn nhìn từng sự đổi thay suốt hai mươi hai năm trời, mang theo hoài bão ước mơ tìm thời xây dựng, mang theo cả nhớ thương lẫn lộn mà đến cùng Song vẫn giữ trong lòng.

    "Đến lúc đó, còn ai ở đây?"

    Song tần ngần mấy giây, gõ vào màn hình rồi xóa, xóa xong gõ lại. Cuối cùng dứt khoát xóa sạch sẽ, thay bằng dòng tin nhắn: "Ừ! Nhớ giữ sức khỏe."

    Chỗ đó xô bồ thế kia, mà bạn còn trụ vững, Song ở chỗ xô bồ kém hơn này, thế mà muốn rơi rồi.

    ...

    Những cơn ho của Thiện ngày càng dai dẳng. Nửa đêm, cuống họng ngứa rát đến mức chỉ muốn thọc tay vào cào cho rách mới thôi. Sợ Song giật mình thức giấc, Thiện khoác áo, mở cửa bước ra đầu dãy trọ, ngồi trên băng ghế đá, vừa che miệng vừa ho đến nổ phổi.

    Có tiếng dép loẹt xoẹt đi tới. Dãy trọ lặng thinh, tiếng dép đột nhiên vang lên như nện vào lồng ngực một cú bất thình lình. Anh trai phòng đối diện luộm thuộm áo thun nhào nhĩ, quần lửng đen, một tay đút túi một tay cầm điếu thuốc, vừa rít một hơi dài vừa bước lại gần. Thiện ngồi nép qua một bên, nhưng anh trai không ngồi xuống ghế đá, đứng tựa vào cổng nhà trọ nhìn lên bầu trời đêm thăm thẳm.

    Bóng đèn tròn có nón chụp tụ ánh sáng vào một chỗ, rọi xuống người đàn ông cao gầy. Bóng đổ dài trên nền gạch xi măng xám ngắt, cô độc và lặng lẽ. Bao quanh cái bóng, là từng gợn thuốc vây lấy, tản ra, rồi biến mất.

    Thiện có cảm giác như mình đang đứng trước một cái cây thật cao, chỉ có hai cành, đen sì, trơ mốc, khẳng khiu, từ từ nó mờ dần, hư ảo, cho đến khi trước mắt chỉ còn một màn trắng toát rồi tự nhiên tối sầm đi.

    ...

    Song cầm gào mên lưng lửng cháo trắng đặc sệch, đứng chờ đến lượt mình rút tiền ở cây ATM dưới trời nắng chói chang. Còn hai người nữa mới đến lượt, Song lôi điện thoại ra coi giờ rồi nhìn bâng quơ sang bên kia đường. Một tốp người ngồi bệt trên vỉa hè, trước bờ tường bong tróc sơn vữa và những dòng chữ mời gọi khoan cắt bê tông, áng chừng đang đợi người thân còn khám bệnh chưa trở ra. Một bác già còn đội nguyên mũ bảo hiểm vừa ngồi chồm hổm vừa ngủ gật. Một cô trung tuổi đội mũ rộng vành kê dép ngồi bó gối, ôm khư khư cái túi xách trước ngực, chống cằm nheo mắt nhìn sang bên đây mà Song không biết là nhìn cái cổng bệnh viện tấp nập người ra người vào, nhìn xe chạy qua chạy lại, hay mờ mịt nhìn vào khoảng không vô hình nào đó. Một anh thanh niên xếp bằng, lưng thẳng tắp dựa vào tường, mặt cúi xuống bấm bấm điện thoại, thỉnh thoảng lại vỗ đùi bôm bốp. Một chị gái ngồi trên ghế nhựa thấp của xe nước mía, hút rột rột li nước đã cạn nhách, vừa hút vừa nói chuyện với ai đó qua điện thoại. Mấy bác xe ôm ngồi cạnh nhau im lặng đợi khách, thi thoảng với qua nhau để châm nhờ điếu thuốc. Bà chị bán nước mía đội nón lá, khẩu trang che kín mặt, đứng chống nạnh tán gẫu với bà chị bán đậu phộng luộc cũng trùm chẳng khác gì ninja.

    Song chẳng biết những con người ở bên kia đường đang sống trong hoàn cảnh nào, nhưng Song biết mỗi người có ít nhất một bí mật.

    Tỉ như Song thương bạn mà Song không nói. Không bao giờ nói.

    Vì khuya hôm qua khi đang ngồi thức trắng đợi Thiện truyền xong chai nước biển, Song lướt Facebook và nhận thông báo mới, rồi thấy trang cá nhân vốn phủi bụi của bạn đã thay đổi avatar hình bạn và một cô gái tóc tém có đôi mắt biết cười.

    Lúc ấy, đột nhiên Song nhớ đến cây sen đá mà mình trồng gần hai tháng đã chết ngắc hôm qua, sau hơn một tuần rụng từng cánh một. Vì Song chăm tưới nước, mà lại quên đem chúng ra nắng để phơi khô.

    Người rút tiền cuối cùng rời đi, sau khi phun ra một câu chưởi thề cùng thông báo "Máy hết sạch tiền rồi."

    ...

    Thực tập sinh sững sờ nhìn Thiện quấn cái khăn len dày cộm quanh cổ, má hóp lại và trũng mắt sâu hơn. Thiện mỉm cười qua khẩu trang y tế, thế mà nó vẫn nhận ra và cười lại, chắc là nhờ con mắt Thiện nheo nheo. Thực tập sinh vẫn chìa tay ra cho Thiện một nắm kẹo gừng, cười thiệt tươi, mắt hấp háy. Lúc Thiện vừa nhận lấy, thực tập sinh trở tay nắm chặt lấy tay Thiện, dùng cái nóng hâm hấp của bàn tay to bè ấp lấy cái lạnh tỏa ra từ những đốt ngón tay gầy xương trắng bệch.

    "Chiều nay em đưa chị về."

    Thực tập sinh chở Thiện vào hẻm nhỏ ăn cháo lòng, lại dẫn Thiện vào Mộc uống trà gừng nóng ấm từ cuống họng xuống tận ổ bụng. Thiện cười híp mắt nghe thực tập sinh kể chuyện ở giảng đường, rồi chuyện ở quê, về những ruộng lúa bạt ngàn vẫn còn cá lóc đồng bơi lẫy bẫy, về những mùa nước nổi chèo ghe đi hái so đũa với điên điển về nấu canh chua, về những lần lội rạch bắt ba khía về làm mắm ăn chung với khế chua chuối chát. Rồi thực tập sinh hỏi Thiện ở phố núi có bao giờ đi cưỡi voi, Thiện vừa cười vừa mím miệng ho, nói voi chẳng dám cho Thiện cưỡi, vì sợ xương đâm trúng, Thiện gầy tong gầy teo thế này mà.

    "Nhưng mà trước khi chết, chị sẽ cố gắng đi cưỡi voi một lần."

    Nói tới đó, thực tập sinh im bặt.

    Đôi khi người ta im lặng, là lúc người ta muốn nói nhiều lời nhất.

    Thực tập sinh chở Thiện về tới cổng nhà trọ, đưa tay cởi nón bảo hiểm ra giúp Thiện, rồi quay xe lại. Lúc Thiện vừa định giơ tay chào tạm biệt, thực tập sinh tự dưng gạt chống xe cái tạch.

    "Chị, làm bạn gái em đi, em sẽ đi cưỡi voi với chị..."

    Đêm, bóng đèn tròn có nón chụp bằng nhôm chiếu xuống tấm lưng to rộng của thực tập sinh đang ôm trọn Thiện vào lòng siết chặt, hắt trên nền đường một vệt dài kéo mãi đến khoảng không đen kịt mà đèn không soi rọi tới. Tiếng thực tập sinh thì thào bên tai, Thiện nhắm mắt lại, buông lỏng tay, lắng nghe tiếng thở phì phò ngày càng nặng nề của mình, lẫn tiếng phổi ì ạch nhấp nhô bơm thải khí.

    Một cái ôm siết nhưng bơ vơ, vì chẳng có vòng tay nào vòng qua đáp lại.

    Sau hôm ấy, nắm kẹo gừng vẫn nằm trên bàn làm việc của Thiện, chỉ là người đưa đã quay lưng lại, đối diện với màn hình máy tính có những con voi đang giơ vòi như cố bắt lấy thứ gì đó ở trên cao.

    ...

    Bạn về lại thành phố một tháng.

    Không phải để chạy trốn những áp lực đè nặng mà bạn hay kể Song nghe. Bạn dắt theo cô bạn tóc tém có đôi mắt hay cười vào thăm thú thành phố mà bạn lớn lên, đã quen thuộc đến từng hẻm ngách.

    Bạn thông báo với Song ngày xuống sân bay, Song cáo bận không đi đón, cũng chẳng góp mặt vào những buổi cà phê mà bạn hẹn với bạn học cũ. Thế mà lúc tan ca chạy trên đường về nhà, Song đột nhiên muốn bắt gặp bạn giữa cơ man người giữa đường đông nghịt. Song khóc một quãng đường lâu. Khẩu trang ướt nhẹp nước mắt nước mũi mà người ta vẫn bình thản chạy qua Song đi tuốt, và đèn giao thông vẫn cứ đều đều bật đỏ sáng xanh, để một đám người đi ngang qua một đám người, một đám người nhìn một đám người đi ngang qua mình trong mấy giây ngắn ngủi.

    Đêm bạn lên sân bay về ngoài ấy, Song nằm dài nghe lại Năm tháng vội vã, nhìn cành cây đập vào cửa sổ chan chát, rồi quay sang ôm lấy Thiện nức nở. Thiện bị đánh thức giữa giấc mơ rơi vào khoảng không nào đó tối om ngoài vũ trụ chẳng có oxi, nhìn cái chăn cuốn lấy Song run rẩy, im lặng không nói.

    Người ta im lặng, vì người ta không còn điều gì để nói.

    Gió ngoài trời gào thét, lặng dần, rồi im bật. Ngoài kia, một tia chớp rạch ngang đường chân trời.

    Dông đến.

    ...

    Thực tập sinh kết thúc đợt thực tập ngay ngày Thiện xin nghỉ để tái khám. Hôm sau vào công ty, Thiện nhìn hũ kẹo gừng đặt trên bàn làm việc, lặng lẽ siết chặt áo khoác. Mở hộp lấy ra một viên, xé vỏ, bỏ vào miệng, nhắm mắt lại cảm nhận vị gừng cay nồng lan dần dần vòm miệng, rồi một luồng nóng ấm tỏa đến từng mô bào. Nhưng tim Thiện vẫn lạnh.

    Chẳng có thứ kẹo nào có thể thay thế thuốc chữa bệnh, cũng như chẳng có phép màu nào có thể quét sạch những nỗi đau. Những cơn mơ rơi vào khoảng không nào đó nằm sâu trong vụ trụ bao la chẳng hề có oxi vẫn cứ len lỏi vào những giấc ngủ nông sâu giữa chừng, có điều nay đã có thêm những viên kẹo gừng cứ bay lởn vởn xung quanh mỗi khi Thiện bấu lấy cổ mình, miệng há rộng để cố đớp lấy không khí, để rồi tan thành bụi trắng khi Song trở mình quay qua ôm chầm lấy Thiện, miệng thì thào tên ai đó chẳng rõ thanh âm.

    Cứ thế năm tháng liền, mỗi khi hũ kẹo gừng hết sạch, một hũ kẹo gừng mới lại nằm chiễm chệ trên bàn làm việc, như khiêu khích kiên nhẫn của người nhận xem có thể phớt lờ người đưa hay không. Rồi khi chiếc kẹo cuối cùng của hủ kẹo mới nhất đã tan mất, đột nhiên Thiện muốn ăn canh chua bông điên điển, muốn lội bùn bắt ba khía trong hang, muốn đi vớt ốc rồi nhìn cá lóc chạy ngoài đồng. Lá phổi chằng chịt những cái rễ cắm sâu, bắt đầu cựa quậy để phập phồng hít thở.

    Tiếng thực tập sinh vang lên sau một tiếng tút. Thiện nói, nhẹ như tiếng lá cây trở mình trong gió.

    "Chị nhớ em."

    ...

    Song đứng đợi ấm nước sôi, nhìn Thiện lui cui xếp quần áo cho vào vali, chuẩn bị sáng mai về thăm quê. Chuyến đi về miền sông nước ở đầu nam đất nước mà Thiện mới trở lại thành phố hôm qua có lẽ rất vui, bằng chứng là sắc mặt Thiện nhìn hồng hào hơn thấy rõ, và Thiện hay khe khẽ hát một làn điệu dân ca mà Song từng nghe thấy trên sóng radio, thỉnh thoảng đọc tin nhắn của ai đó lại cười mỉm mỉm.

    Song bắt đầu nghĩ về những cái rễ gai bắt đầu bị đứt lìa, rồi tắt ngang bởi tiếng chuông điện thoại vang lên mồn một giữa đêm.

    Bạn dùng số khác gọi điện cho Song, hỏi tại sao lại trốn tránh bạn cả nửa năm như tránh bão.

    Song cười, giả ngây, tại bạn có bồ rồi.

    Bạn bảo bạn đang ở thành phố, muốn gặp Song, rất muốn gặp Song.

    Song im lặng. Biết bao nhiêu lần im lặng mãi cũng thành quen, từ có vô vàn điều muốn nói cùng nhau trở thành chẳng còn điều gì để nói. Lại một cái cớ đưa ra để tránh phải chạm mặt nhau rồi ngượng ngùng sượng sạo. Bạn có lẽ vẫn như ngày xưa, ngồi kể cho Song nghe đủ thứ chuyện trên đời dưới đất, thế nhưng Song đối diện với bạn chỉ còn lại những hụt hẫng và buồn thinh chẳng thốt nên lời. Bạn có tội tình gì đâu, Song thì cơ man nào tội, mà cái tội lớn nhất là thương bạn mà không dám nói, bạn có bồ rồi vẫn còn thương, thương rồi đâm ra hờn ghét oán trách bạn sao chẳng bao giờ nhìn đến Song một lần.

    Song nhìn ra ngoài cửa sổ, phòng anh trai đối diện vẫn khóa kín mấy hôm rồi. Im lìm, tối đen, chậu hồng leo để trước cửa đã bắt đầu rũ xuống rệu rã, trông như chỉ chạm nhẹ là rơi rụng từng phần từng phần một.

    Rồi đột nhiên Song thì thào hỏi bạn, nếu ngày đó Song nói Song thương bạn, bạn có ở lại thành phố này không.

    Bạn không đáp, cũng không cúp máy, chỉ có tiếng hít thở đều đều vang vọng trong điện thoại cho Song biết bạn vẫn còn bên kia đường dây nằm đâu đó ngoài kia giữa lòng thành phố. Thứ đường dây vô hình mà Song chẳng thể nắm lấy đầu bên này, rồi kéo thật nhanh thật nhanh để nó dẫn bạn đến bên Song ngay tức khắc.

    Đến tận sau này Song vẫn còn nhớ, khi bạn nói xong câu ngoài kia là nơi mà bạn thuộc về, có người bạn thương chẳng muốn rời khỏi, bàn tay đang ghì chặt chiếc điện thoại áp sát vào tai đến nóng hổi của Song bỗng chốc buông lỏng, rồi rơi xuống nền nhà, vang lên một tiếng bốp thanh thoát. Thiện giật mình ngừng tay, sau đó im lặng nhìn Song từ từ ngồi sụp xuống.

    Song không khóc. Hốc mắt khô ran. Nhưng Song cứ nhìn mãi cái bóng của mình ở trên bức tường trắng toát. Song bất động, nó bất động. Song đưa tay vuốt ve cái bóng, nhưng nó chẳng thể với một cánh tay nào ra để vuốt ve Song.

    Ấm điện tít tít báo nước sôi.

    Song chợt nghĩ ngày mai mình phải tưới cho chậu hồng leo thôi héo rũ.

    ...

    Ngày xx/xx/xxxx: TIN KHẨN. Hôm nay, chuyến tàu hỏa Bắc Nam xuất phát từ ga S. đến ga H. bất ngờ phát nổ tại toa hạng nhất khi đang đi qua địa phận tỉnh G. Vụ nổ đã ảnh hưởng đến 2 toa liền kề, làm 40 hành khách và 3 nhân viên đoàn tàu thiệt mạng, 10 hành khách bị thương nặng đang cấp cứu khẩn cấp. Nguyên nhân sự việc đang được điều tra làm rõ.

    Ngày xy/xx/xxxx: TIN ĐIỀU TRA. Các cơ quan chức năng vẫn đang tích cực điều tra nguyên nhân sự cố phát nổ của chuyến tàu lửa mang số hiệu MM381. Theo đánh giá, đây là một tai nạn nghiêm trọng chưa từng có trong lịch sử giao thông nước nhà. Kết quả sơ bộ ban đầu ghi nhận, một nạn nhân bị thương nặng đã hồi tỉnh và tường thuật lại vụ việc mâu thuẫn giữa hai hành khách thuộc toa hạng nhất, sau đó một người đã làm phát nổ chất nổ cấm đã chuẩn bị từ trước ngay tại toa. Sau khi đối chiếu nhận dạng, cơ quan chức năng nhận định hành khách bị tình nghi hiện vẫn còn sống sót và đang được điều trị tại bệnh viện. Sự việc vẫn đang được làm điều tra làm rõ.

    Ngày yy/yy/xxxx: TIN KẾT LUẬN ĐIỀU TRA. Sau hơn một tuần ráo riết điều tra nguyên nhân vụ tai nạn của chuyến tàu MM381, cơ quan chức năng đã công bố nguyên nhân sự việc và tiến hành xử lý liên đới. Theo đó, nam hành khách N.H.H (nguyên quán tỉnh Đ.) nảy sinh tình cảm với nữ hành khách N.V.T (nguyên quán tỉnh Đ.) nhiều năm liền nhưng không được đáp trả. Sau khi H vào thành phố S sinh sống, gặp lại T. đang cùng bạn trai hiện tại là anh T.D.B đi du lịch. Cơn ghen nổi lên, H. nảy sinh ý định giết chết B. để giành lại chị T. Sau nhiều lần hành động nhưng bất thành, H. tiếp tục theo dõi và biết T. cùng bạn trai sẽ trở về tỉnh Đ. trên chuyến tàu MM381. Lúc này, H. cố tình đặt vé cùng toa, xuất phát cùng lúc với T., mang theo chất nổ lỏng tự chế lên tàu để đợi đến thời điểm chín muồi sẽ cho phát nổ. Trong quá trình hành động, hành khách H.K.T (nguyên quán tỉnh G.) phát hiện ý đồ của H., hai bên nảy sinh cự cãi, nhưng không kịp ngăn cản, sau đó tai nạn xảy ra.

    Song xem đi xem lại những bản tin online kia đã hàng nghìn lần, kể từ ngày chuyến tàu số hiệu MM381 chính thức ngưng hoạt động sau vụ tai nạn thương tâm ngày đó. Xem đến độ thuộc nhằm lòng từng câu từng chữ, mỗi lần nhắm mắt lại đều mường tượng ra được từng chi tiết một.

    Những cái tên chạy quanh trong đầu, tên hung thủ, tên nạn nhân, xếp chồng lên nhau, dính vào nhau, rồi đứt đoạn.

    Hôm nay cũng vậy, đọc xong Song lại ra ban công đứng nhìn xuống đường, trong khi lũ trẻ chạy rộn quanh trong nhà chơi đuổi bắt ầm ĩ, thi thoảng lại réo ầm mẹ ơi inh ỏi. Dưới đường, xe bóp còi, xe chen xe, xe nối đuôi nhau đi về hai hướng, tách ra ở ngã tư, rồi quấn vào nhau ở vòng xoay tròn năm sáu ngã rẽ. Xa xa, đường chân trời một màu ráng đỏ, không một gợn mây, trong vắt.

    Đã mười lăm năm rồi.

    Dãy trọ cũ đã bị đập bỏ để quy hoạch cho dự án mới từ mười năm trước. Trước đó năm năm, đồ đạc Thiện để lại, Song xếp hết vào một thùng giấy to rồi gửi về quê. Thu dọn lặng lẽ, đóng gói lặng lẽ, gửi đi cũng trong một buổi chiều lặng lẽ đến mơ hồ. Ngày Song kéo vali nặng trĩu ra khỏi khu trọ, trời không nắng, bóng đèn tròn có mũ chụp bằng nhôm không bật sáng, không có cái bóng nào hắt trên nền gạch xám ngắt.

    Phòng trọ đối diện vẫn đóng cửa im lìm. Chậu hồng leo trước cửa phòng ấy đã chết khô, trong cái đêm báo chí cập nhật tin tức về nguyên nhân vụ tai nạn tàu lửa thảm khốc.

    Nó không chết vì thiếu nước.

    Song đã tưới cho nó thật nhiều, thứ nước sôi ở 100 độ C vẫn còn nghi ngút khói.

    "Mày có sống, cũng chẳng còn ai chăm nữa."

    Song đã thì thào với nó những lời cuối cùng như thế, bởi chủ nhân của nó sau khi thú nhận hết mọi chuyện với cơ quan chức năng ngay trên giường bệnh, cứ thế mở to mắt nhìn lên trần nhà rồi tắt thở. Bác sĩ nói đó là ánh mắt cũng những người thảng thốt nhận ra lỗi lầm của mình. Nhưng Song nói đó không phải là lỗi lầm.

    Đó là tội ác.

    Tội ác mang đi bạn. Mang đi Thiện. Mang đi cả cô gái tóc tém mà Song đã chúc phúc nhất định phải răng long đầu bạc bên bạn.

    "Chết bỏ..."

    Họ chết bỏ Song rồi, còn Song bơ vơ, đối diện với những bức tường, vuốt ve cái bóng của chính mình trong căm lặng. Song nghe tiếng ho sù sụ day dẳng vọng về trong những cơn mê, tiếng điện thoại rơi xuống đất vỡ nát như cái lần cuối nghe bạn bảo rất muốn gặp Song.

    Nhiều năm liền, hàng đêm dài, đến khi tự Song bảo Song, mày phải ra khỏi bóng đêm này thôi Song ạ.

    Vậy là Song vùng vẫy đi ra, thoát khỏi những ám ảnh về bạn, về Thiện, về cô gái tóc tém, bắt đầu một cuộc sống bình thường với những niềm khao khát của nhân sinh: có thu nhập, lập gia đình, và có những đứa trẻ tay bế tay bồng mở to đôi mắt đen lay láy nhìn Song, nhìn đời.

    Song không xếp nỗi đau vào quá khứ, bởi không quá khứ nào chứa đựng được hệ lụy từ cả một loạt mất mát chấn động kinh khủng như thế. Song để nó trôi dần theo tháng năm vội vã, chậm rãi đợi nó tiêu thất từ từ trong cõi vũ trụ vĩnh hằng chìm nổi những nỗi đau, mà mỗi người là một thực thể bé nhỏ biết nghĩ suy và luôn khao khát có được những thứ mình mong muốn, dẫu sau đấy là cả những đêm tức tưởi hay những giấc mơ thiếu mất oxi...

    "Mẹ ơi, em làm đổ hủ kẹo gừng của bố rồi!"

    Tiếng đứa con nít hét lên đột ngột. Song quay người bước vào phòng khách, mỉm cười nhìn lướt qua khung ảnh treo trên tường, rồi ngồi bệt xuống chơi cùng hai đứa nhóc đang tranh nhau nhặt kẹo gừng bỏ vào hủ.

    Trong ảnh, người đàn ông cao, ốm, tóc húi cua, mắt kính gọng đen, cười không có cái răng khểnh nào, đang ôm lấy eo Song trong chiếc váy cưới trắng ngần, nhìn thẳng vào ống kính. Dưới khung ảnh, một tượng voi bằng đất nung có chiếc vòi giơ lên, như đang bắt lấy thứ gì đó ở trên cao tít tắp...

    Linh Phong

  • Ngôi sao sáng nhất

    Mùa đông năm nay đến sớm. Cái giá rét len qua từng ô cửa sổ bệnh viện khiến cho sự buồn bã và cô đơn nơi đây tăng lên gấp bội.

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Nữ y tá đẩy xe thuốc vào bên trong phòng bệnh, nét mặt u buồn nhìn hai đứa trẻ đang say giấc. Gương mặt chúng thật ngây thơ và hiền hậu biết bao. Cô thở dài. Đôi tay gầy gò bám chặt vào tay vịn của chiếc xe, ngăn cho những dòng nước mắt không đột ngột tuôn ra,rồi miễn cưỡng mỉm cười:

    "Hoa, Cường trưa rồi dậy thôi"

    Hai đứa trẻ khẽ mở mắt mệt mỏi. Cô mỉm cười tiến lại gần xoa đầu bé gái:

    "Bé cưng, dậy thôi nào. Hôm nay bác sĩ cho cô dắt con ra ngoài đi dạo đó"

    Con bé mắt sáng rỡ, đôi tay trắng nõn bám lấy bàn tay nữ y tá:

    "Thật không cô Phương, vui quá đi. Con nằm trong đây chán lắm cô ạ, cuối cùng cũng được ra ngoài rồi. Hihi"

    Tiếng cười non trẻ của đứa bé khiến Phương xuýt chút không kìm được nước mắt. Lòng cô đột nhiên quặn lại từng hồi:

    "Ừ, biết rồi. Bé Hoa cứ than thở mãi thôi. 7 tuổi mà như bà lão ấy. Nay tự xuống giường rửa mặt rồi cô dắt đi nè"

    Cô bé nhanh nhẹn giở mền, đôi chân nhỏ xíu lon ton chạy về phía nhà vệ sinh. Vừa đi vừa hát nữa. Phương quay đầu nhìn về phía bé trai đang quay lưng vào tường, chạm khẽ vào vai cậu bé:

    "Cường, con cũng dậy đi. Hôm nay cháo ngon lắm. Lát nữa cô y tá mang lại cho con nha"

    Thằng bé không quay đầu lại, bờ vai khẽ run lên từng nhịp: " Hôm nay con lại không được ra ngoài phải không ạ?"

    Phương lặng thinh một lúc lâu:

    "Cường, khi nào con hết bệnh, cô Phương hứa sẽ dẫn con đi chơi mà, được không con?"

    Thằng bé lúc này quay lưng lại, đối diện với Phương, đôi mắt từ lâu đã ửng đỏ:

    "Con còn có thể khỏe lại không?"

    Phương nhìn đứa bé tội nghiệp, đôi tay cô dang ra ôm nó vào lòng:

    "Có thể mà, chắc chắn con sẽ khỏe lại. Hôm qua bác sĩ bảo tình trạng hai đứa đã tốt hơn rồi, nhất định sẽ mau khỏe lại thôi mà".

    Thằng bé úp mặt vào lòng cô khóc thút thít. Bé Hoa vừa xúc miệng xong, lon ton chạy ra. Nó hớn hở:

    "Anh Cường lớn rồi còn mít ướt, lêu lêu". Vừa nói con bé vừa làm điệu bộ.

    "Anh không có nha"- Thằng Cường vừa nói vừa lau vài giọt nước mắt đọng lại trên má, trùm chăn kín đầu.

    Hai đứa trẻ khiến lòng Phương không khỏi nặng nề nhưng đôi môi đỏ tươi vẫn mỉm cười: "Bé Hoa không được chọc quê anh, biết chưa. Lại đây, cô dắt đi dạo nè"

    Rồi Phương nắm bàn tay nhỏ nhắn của con bé, không quên dặn dò Cường:

    "Cô với em Hoa đi một lát sẽ về ngay, chút nữa sẽ có cô y tá đem cháo lên cho con. Ráng ăn hết không là cô giận đó".

    Nói xong, Phương dắt bé Hoa ra khỏi phòng. Suốt dọc đường con bé cứ líu ríu huyên thuyên nhưng Phương nào có tâm trạng vui vẻ với con bé. Cô vẫn nhớ cuộc nói chuyện với bác sĩ lúc sáng

    "Tình hình 2 đứa đã chuyển biến xấu đi nhiều rồi, tôi nghĩ thời gian còn lại không nhiều đâu cô Phương à".

    Đôi mắt Phương ửng đỏ lên:

    "Không phải nói khi xạ trị sẽ có cơ hội sao bác sĩ. Nhưng tại sao lại là chuyển biến xấu đi chứ".

    Vị bác sĩ già thở dài, ông không dám nhìn thẳng vào đôi mắt nữ y tá:

    "Phương pháp này cũng tùy vào cơ thể mỗi người nữa. Cơ thể nào có phản ứng với thuốc thì mới có cơ hội. Tôi thật không còn cách nào".

    Ông ngưng một lúc rồi lên tiếng:

    "Cô dắt con bé đi dạo đi, đó là tâm nguyện của nó. Con bé còn nhỏ tuổi, sức đề kháng không được tốt không chịu được thuốc, tình trạng cũng nặng hơn rồi"

    Phương không kìm được nước mắt nhìn vị bác sĩ. Cô nhận ra sự bất lực của một bác sĩ tâm huyết với nghề. 2 đứa trẻ tội nghiệp là 2 anh em ruột lại cùng mắc căn bệnh ung thư máu. Theo cô biết, 2 đứa bé từ nhỏ đã ở trong viện mồ côi. Sự mất mát tình thân, nay lại phải chịu sự giày vò của bệnh tật khiến cô không khỏi chạnh lòng. Phương sinh ra và tốt nghiệp y tá ở thành phố lớn nhưng cô lại muốn đi thực tập ở vùng núi xa xôi để giúp đỡ cho trẻ em nghèo. Chính nhờ chuyến đi này cô mới gặp Hoa và Cường, hai đứa trẻ bất hạnh.

    "Cô ơi, hoa này là hoa gì vậy cô"

    Phương lúc này mới hoàn hồn, khóe mắt cô vẫn còn long lanh:

    "À, hoa hướng dương đó con. Bé Hoa không biết hoa này sao".

    "Dạ, con chưa thấy hoa nào to như vậy cô ạ. Nhìn nó đẹp ghê luôn cô há".

    Đôi mắt tròn xoe của con bé nhìn chăm chú vào mấy cây hoa hướng dương trồng sát lối đi ở bệnh viện, đáy mắt ánh lên vài tia hạnh phúc. Phương có thể nhìn ra được, con bé đang thật sự rất vui vẻ. Niềm vui của con nít đôi khi chỉ đơn giản như vậy thôi.

    "Bé Hoa nè, con có biết tại sao con lại tên là Hoa không?"

    "Con không biết nữa cô ơi, tại sao vậy cô"-Con bé hồn nhiên trả lời, ánh mắt thích thú

    "Vì con xinh như một bông hoa hướng dương vậy đó".

    Bé Hoa cười tít mắt một lúc nhưng rồi lại ỉu xìu. Phương ngạc nhiên:

    "Sao vậy con?"

    "Con đâu có đẹp như bông hoa đó đâu cô". Mặt con bé xìu xuống như sắp khóc. Phương vỗ về:

    "Sao lại không, con là đẹp nhất đó"

    "Con không có tóc thì sao đẹp được hả cô"

    Ánh mắt Phương chùn lại, nước mắt cô tuôn ra. Cô ôm chầm con bé cố an ủi nó:

    "Ai nói với Hoa là không có tóc sẽ không đẹp, con rất xinh đẹp"

    Con bé vuột khỏi ngực cô, ánh mắt vui vẻ:

    "Thật không cô?"

    Phương xoa đầu con bé, cố nặn ra một nụ cười thật tự nhiên:

    "Thật mà"

    Con bé vui vẻ dựa nguời vào vai cô thủ thỉ:

    "Dù vậy nhưng con thích có tóc dài như cô. Từ lúc bác sĩ tiêm thuốc thì đầu con không còn tóc nữa luôn đó cô"

    "Sau này hết bệnh thì tóc bé Hoa sẽ dài lại thôi mà"

    "Dạ vâng"

    Phương cắn môi, cố để không bật thành tiếng khóc. Cô rất sợ con bé sẽ phát hiện mình đang dối nó, cô sợ con bé sẽ buồn. Trời đã ngả màu. Buổi chiều ảm đạm tăm tối lại bao trùm lên cuộc đời của những đứa trẻ tội nghiệp. Phương nắm tay bé Hoa dắt về phòng. Trên đường đi cô không ngừng nghĩ về tương lai của Cường, Hoa và cả những đứa trẻ đáng thương đang bị giày vò vì bệnh tật.

    Đã hơn 10 giờ đêm, gió lạnh làm cho Phương thức giấc. Hôm nay cô trực trong bệnh viện. Loay hoay một lúc, Phương quyết định đi xem Cường và Hoa ngủ có ngon không. Vừa mở cửa, cô nghe âm thanh náo loạn. Tiếng bước chân thay nhau vang lên trên hành lang, bác sĩ y tá đang gấp gáp chạy đi đâu đó. Phương ngạc nhiên, cô khẩn trương:

    "có việc gì vậy"

    Nữ điều dưỡng gấp gáp:

    "Con bé Hoa ở lầu 8 đang co giật, bác sĩ đang ở trên đó"

    Nước mắt chực trào ra, Phương chạy như bay về phía thang máy nhưng không đợi được. Cô nhanh chân đi bằng thang bộ. Cô đã không còn cảm giác được sự mệt mỏi của đôi chân nữa, chỉ cảm thấy trái tim như bị ai xé ra đau đớn vô cùng. Phương bật cửa phòng bệnh. Cơ thể bé Hoa đang cuộn trong tấm chăn lớn. Từng nhịp thở trút ra khó khăn. Cô tiến lại gần con bé, đặt bàn tay run rẩy lên ngực nó, cảm nhận nhịp tim của nó. Từng nhịp. Từng nhịp. Đập yếu ớt. Cô quay đầu nhìn bác sĩ. Vị bác sĩ lắc đầu, đáy mắt rưng rưng lệ:

    "Cô ở cạnh con bé đi. Con bé rất cần cô lúc này"

    Phương không còn chút sức lực, chỉ thều thào:

    "Không, không thể như vậy được. Buổi sáng con bé vẫn còn rất vui vẻ mà. Tại sao, tại sao vậy". Cô không kìm chế được mà gào lên.

    "C...ô Phương ơi. Con mệt quá"

    Phương nhìn bé Hoa, tay nắm chặt lấy bàn tay con bé:

    "Cô đây, con không sao đâu mà, nhất định đó. Sau này cô...cô sẽ dắt con đi công viên, con muốn đi đâu cô sẽ dắt con đi. Bé Hoa à, con nhất định không sao?"

    "Con muốn đi sở thú, con muốn.....con muốn coi con thiên nga....Nó rất....rất đẹp phải không cô?"

    Phương uất nghẹn, bàn tay vuốt ve đôi tay tái nhợt của con bé:

    "Được, cô hứa sẽ dẫn con đi. Cô..... cô hứa mà"

    Bé Hoa mỉm cười, nụ cười rạng rỡ chứa đựng hạnh phúc đơn giản. Nhịp đập của trái tim non nớt yếu dần đi rồi từ từ chìm vào giấc ngủ. Một giấc ngủ thật dài. Phương gào lên:

    "Đừng....đừng mà, cô xin con, đừng bỏ cuộc. Hoa....con không được ngủ....Hoa à"

    Tất cả bác sĩ, y tá trong phòng đều cúi đầu chùi nước mắt. Phương quì rạp xuống giường rồi cô lấy tay xoa đầu con bé:

    "Con sẽ đến một nơi khác hạnh phúc hơn, phải không Hoa"

    Cô lau nước mắt ngước nhìn bác sĩ:

    "Thằng Cường đâu rồi?"

    "Nó là nguời phát hiện ra em nó khó thở, chúng tôi vào thì nó đã chạy ra hành lang rồi"

    Phương nhíu mày, vội chạy ra hành lang. Thằng bé đang ngồi thẫn thờ ở đó, đôi mắt ngấn lệ vô hồn. Cô chạy lại ôm chầm lấy nó. Thằng bé đẩy Phương ra, nước mắt tuôn rơi không ngừng:

    "Cô nói dối, cô nói tụi con sẽ khỏe lại, cô nói cô sẽ dẫn tụi con đi chơi. Nhưng mà....nhưng mà không phải vậy. Em Hoa đã chết rồi, con cũng sắp chết rồi có phải không? Cô chỉ toàn gạt tụi con, cô là người xấu xa".

    Phương nắm chặt tay thằng Cường:

    "Không đâu, con nhất định sẽ khỏe mạnh mà, nhất định. Cô xin con, đừng nói như vậy. Em Hoa không chết, chỉ là em đi đến một nơi mới mà thôi. Nơi đó sẽ không có đau khổ buồn bã nữa"

    Thằng Cường đôi mắt đã ướt đẫm, ngã vào lòng Phương mà thét lên:

    "Cô ơi, con sẽ rất nhớ em Hoa, con sẽ không gặp em Hoa nữa phải không?"

    Phương cũng không ngăn được nước mắt, cô ôm chặt thằng bé hơn

    "Đừng khóc, em Hoa không bỏ rơi chúng ta đâu"

    Cô lấy tay lau nước mắt cho thằng Cường rồi đỡ nó dậy.

    "Cường nhìn xem"-cô chỉ tay lên bầu trời, nơi những ngôi sao đang chiếu lấp lánh.

    "Cường thấy ngôi sao to nhất sáng nhất đó không? Em Hoa đang ở đó đó. Nơi đó chắc chắn em Hoa sẽ rất hạnh phúc. Em Hoa không muốn Cường khóc đâu? Cường phải mạnh mẽ vượt qua bệnh tật thì em Hoa mới vui được, biết không?"

    Thằng bé nhìn theo cánh tay của Phương. Nó cũng giơ những ngón tay gầy gò lên bầu trời đêm.

    "Con sẽ không khóc, sẽ không làm em Hoa buồn. Sau này mỗi lần nhớ em Hoa con sẽ ra đây trò chuyện với ngôi sao đó. Em ấy sẽ nghe được đúng không cô?"

    "Ừ nhất định sẽ nghe được"

    Phương nhắm mắt lại. Những giọt nước mắt lăn xuống hàng mi của cô. Có những lời nói dối làm tổn thương người khác nhưng cũng có những lời nói dối sẽ giúp chữa lành vết thương. Bầu trời đêm nay rất sáng. Phải chăng vì có một linh hồn thanh khiết bé bỏng đã hóa thành. Hoa à, con chính là ngôi sao sáng nhất kia, phải không? Phương đứng lặng nguời. Bóng tối bao trùm lên người cô, che đi nét đau thương, mệt mỏi trên gương mặt của cô. Hiện thực không thể thay đổi được, nhưng tương lai thì có thể. Tương lai là Cường, thằng bé sẽ sống một cuộc sống thật khỏe mạnh và hạnh phúc. 

    Trời càng lúc càng khuya. Bóng tối càng dày hơn, nhưng cô tin tưởng rất nhanh thôi trời sẽ lại sáng, sẽ lại gieo rắc những tia hi vọng mới vào cuộc đời những đứa trẻ đáng thương như Cường và Hoa.

    Lê Thị Yến Nhi

  • Bé Sinh

    Bên tai ông văng vẳng câu chửi của chồng cô Hằng: "Chắc chắn là con rơi của ông Cần chứ không ai." Vậy là vô hình trung ông đã tự nhận mình là thủ phạm. Nhưng bây giờ ông làm sao đây?

    (Notepad24h - Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Những câu chuyện cuộc đời")

    ***

    Nhìn đồng hồ mới hơn bốn rưỡi thấy còn sớm nên cô Nga tranh thủ ghé nhà em Hùng. Cô thắng xe đậu ngoài sân, nhìn vào trong nhà thấy người đàn ông có mái tóc hoa râm mắt đeo kính đang chăm chú cúi xuống tập cho bé gái đánh đàn organ. Bé gái chừng khoảng bốn hay năm tuổi đang nhấn từng phím đàn... ba...thương...con...vì...con...giống...mẹ...từng nốt nhạc chậm chạp vang lên.

    Hùng là học trò của lớp 8 /7 cô Nga chủ nhiệm. Em hay đi học muộn, quần áo lại xộc xệch không tươm tất như các bạn nam cùng lớp. Nhiều lần em không thuộc bài. Cô Nga gọi điện mời phụ huynh đến trường để trao đổi về việc học của em nhưng lần nào cũng nhận được lời xin lỗi vì phụ huynh không đến được. Qua lí lịch và tìm hiểu ở các giáo viên năm trước cô Nga biết Hùng đang ở với ông nộị. Ông nội Hùng đã hơn bảy mươi tuổi là thương binh, và cũng là nhạc sĩ của hội âm nhạc Bình Phước. Hai ông cháu sống nương tựa vào nhau. Hùng lầm lì ít nói có vẻ tính cộc cằn. Bố mẹ Hùng li dị khi em lên lớp 6. Mẹ bỏ đi nơi khác sinh sống. Bố Hùng lên thành phố làm ăn, nghe đâu cậu ta lấy vợ khác giàu có, xây dựng cơ ngơi ở trên đó, nhiều lần về đưa Hùng lên nhưng em không đi vì thương ông nội. Mẹ em đi làm thuê cho quán xá lâu lâu ghé về thăm hai ông cháu, mua cho con lúc hộp sữa, khi cân đường hay bộ quần áo. Hùng thương mẹ lắm nhưng bố đã lấy vợ khác mẹ không thể về ở làm dâu để càng khó xử. Vốn đã lầm lì Hùng càng trở nên lầm lì hơn....

    Tiếng xe dừng làm ông Cần giật mình, ông ra cổng đón khách.

    - Dạ xin lỗi đây có phải là nhà của em Hùng không ạ? Cô Nga lễ phép hỏi.

    - Vâng đúng rồi ạ. Thế cô là ai? Tìm cháu Hùng nhà tôi có việc gì không ạ? Ông Cần ngạc nhiên hỏi. Cô Nga vui mừng nói:

    - Dạ cháu là cô chủ nhiệm của em Hùng ạ.

    - Ôi, quá lỗi đã làm phiền cô giáo phải đến nhà. Ông Cần tỏ ra ái ngại. Cô Nga đành giải bày:

    - Dạ không sao bác ạ! Vì chiều nay cháu về sớm nên tiện đường ghé thăm nhà bác và trao đổi viêc học của em Hùng với bác.

    - Vâng, mời cô giáo vào nhà uống nước. Nói rồi ông Cần đon đả kéo ghế, rót nước mời khách.

    Cô Nga trao đổi với ông Cần về tình hình học tập của em Hùng cũng như những khuyết điểm em còn vi phạm. Cô mong phụ huynh chú ý quan tâm em hơn và cô hứa sẽ cố gắng động viên, giúp đỡ để Hùng tiến bộ. Chợt Cô Nga đưa mắt nhìn bé gái vẫn chăm chú mân mê phím đàn hỏi:

    - Bác cũng nhận dạy kèm đàn cho trẻ ạ? Một thoáng bối rối ngại ngùng ông Cần nói:

    - À...vâng...mà không...bé là con tôi đấy. Cô Nga tỏ vẻ ngạc nhiên:

    - Thật à bác? Như để xua tan sự nghi ngờ của cô ông Cần quay vào bảo con bé:

    - Bé Sinh ngoan chào cô giáo đi con! Con bé buông đàn, rời ghế đến trước mặt cô:

    - Con chào cô giáo ạ! Cô Nga liền xoa đầu bé:

    - Con ngoan quá, con mấy tuổi rồi?

    - Dạ con bốn tuổi ạ! Nói xong con bé đến ngồi vào ghế đàn tiếp. Những ngón tay non nớt nhấn trên phím đàn, từng nốt nhạc trầm bổng lại vang lên xem ra bé đã thừa hưởng được ngón đàn của ông Cần. Cô Nga không thể nào tin được bé Sinh là con ông Cần. Ông Cần như đọc được trong ánh mắt cô giáo sự hồ nghi, ông thanh minh:

    - Thực ra bé Sinh chỉ là con nuôi của tôi thôi cô à. Thì ra là vậy, như có điều gì đó làm cô Nga nghĩ ngợi...

    Một lần Hùng đến lớp muộn, cô Nga hỏi lý do em bảo rằng:

    - Thưa cô tối qua bé Sinh cô nhỏ của em bị sốt cả đêm, ông nội quên đánh thức em dậy đi học. cô Nga không hiểu lắm nhưng đang giảng bài nên đành cho Hùng vào lớp. Hôm sau cô gọi điện mời phụ huynh lên xem hư thực thế nào nhưng không thấy phụ huynh nhấc máy...

    - Cháu có điều thắc mắc không phải bác bỏ qua cho, sao bác lại nhận nuôi một đứa bé như vậy? Thế mẹ của bé ở đâu, làm gì mà lại cho con? - Cô Nga tò mò hỏi.

    Ông Cần đưa mắt xa xăm:

    - Chuyện dài lắm cô ạ, tôi cũng không ngờ cơ duyên tôi làm bố của bé. Ông đăm chiêu nhìn ra sân... Mặt trời ngả bóng, nắng đã dịu ngoài ngõ, tiếng lũ học trò tan trường về ríu ran nhưng cô Nga nói:

    - Chuyện thế nào bác có thể kể cho cháu nghe được không ạ? ông đung đưa:

    - Nếu cô không thấy phiền thì tôi sẽ kể...

    - Vâng bác cứ kể đi ạ vì khó có dịp cháu ghé được.

    ... Đêm nay bác sĩ Hoàng trực nên không tham gia chuyến du lịch biển Vũng Tàu của bệnh viện nhân dịp lễ ba mươi tháng tư.Nghề của các anh là vậy phải làm việc hai bốn trên hai bốn. Bác sĩ Hoàng muốn đi Vũng Tàu với vợ con lắm nhưng những ngày lễ thế này công việc của các bác sĩ khó vắng mặt bởi không biết bao nhiêu ca cấp cứu do tai nạn giao thông. Có một ca sản phụ vào lúc đêm, khai là sinh viên cao đẳng Bình Phước đi chơi bị đau bụng dữ dội và vỡ ối. Sau đó được chuyển xuống khoa sản. Chưa kịp làm thủ tục nhập viện, cô rên la đau đớn nên cô hộ lý đưa lên bàn sinh. Hơn hai mươi phút sau, một bé gái oa...oa cất tiếng chào đời. Cô hộ lý gọi người nhà bế trẻ sơ sinh qua phòng, sau khi đã tắm rửa cho bé xong và làm thủ tục nhưng không thấy người nhà của sản phụ. Cô gái sinh xong mê mệt, thiếp đi được đưa vào phòng hồi sức. Gần sáng cô tỉnh dậy thấy phòng vắng lặng lạnh toát, bụng sao nhẹ lâng, hình như mình đã trút gánh nặng của cuộc đời. Cái thai này đã hành hạ bấy nay, cô phải dấu giếm để không ai biết. Cô mới là sinh viên năm hai tương lai còn phía trước. Ba mẹ ở quê mà biết chắc cô không thể sống. Thôi thì xem như kiếp này mình nợ đứa bé, kiếp sau mình trả vậy. Cô gái lặng lẽ rời phòng, trốn khỏi bệnh viện. Cô đi như chạy vì sợ người ta bắt gặp.

    Cả khoa sản náo lên vì chẳng thấy sản phụ đâu, ba ngày trôi qua không thấy cô gái quay lại làm thủ tục. Các cô điều dưỡng của bệnh viện vẫn phải chăm sóc bé và chờ đợi. Hơn một tuần vẫn không thấy bóng dáng...

    Ông Cần đi tái khám vì lâu lâu vết thương cũ lại làm cho con mắt của ông xốn lên khó chịu vô cùng. Khám và lấy thuốc xong, tiện ông ghé thăm bác sĩ Hoàng( bác sĩ Hoàng là con một đồng đội cũ của ông ở chiến trường, cùng tham gia trận đánh vào Lộc Ninh năm 1972 đã hi sinh, nên ông xem Hoàng như con trai mình). Bác sĩ đang bận trao đổi với cô điều dưỡng thấy ông Cần đến nên chia sẻ câu chuyện. Ông nhìn đứa trẻ sơ sinh đang ngủ trong chiếc giường nôi, bé được quấn khăn ủ ấm kĩ, trong lòng ông dâng lên nỗi niềm thương cảm lạ. Giá như nhà ông có một bé gái, tia sáng lóe lên trong đầu ông nhưng thoáng biến mất. Ông chợt nghĩ đến cô Hằng ở cùng xóm, lấy chồng bao năm mà vẫn chưa có con. Hai vợ chồng cô ao ước một đứa con thôi mà sao vô cùng khó khăn. Nghe đâu đi bệnh viện này đến bệnh viện kia. Chưa hết, nghe ai nói chùa nào linh thiêng cũng đến cầu tự. Vậy mà ông trời vẫn không thương xót hay chưa nghe thấy. Nên ông nói:

    - Ở cạnh nhà bác có một cô lấy chồng bao năm nay mà chưa có con hay bác nói cô ấy đến nhận nuôi.

    Đang trong lúc chưa biết xử trí thế nào về đứa trẻ sơ sinh, bác sĩ Hoàng như gỡ được rối.

    - Vậy cháu nhờ bác đưa cô ấy đến đây để cháu làm tục, cho cô ấy tạm nuôi chờ ngày mẹ đứa bé quay lại.

    Tưởng đâu mọi thứ đã êm xuôi dễ dàng. Nhưng sự đời đôi khi khó như ta nghĩ. Cô Hằng mang bé về nhà thì chồng cô không đồng ý, phản đối kịch liệt. Anh ta sang nhà ông Cần chửi bới thậm tệ. Bởi biết đâu là con ông Cần chăng. Biết đâu ông quen cô gái trẻ nào giờ sinh con không nuôi được nên nhờ người khác. Làm sao có thể chấp nhận nuôi con cho ông Cần. Cô Hằng ao ước một đứa con để nuôi vậy mà giờ chồng mình hết sức ngăn cản. Mà điều chồng nói làm cô bán tính bán nghi, biết đâu mai này mẹ đứa bé về đòi lại. Hơn nữa chồng cô luôn có thành kiến không tốt về ông Cần cho rằng nhạc sĩ đàn ca sướng hát rất lãng mạn và đa tình....

    Cuối cùng cô Hằng đành mang bé sang cho ông Cần nhờ trả lại bệnh viện. Bản thân cô không dám đến bệnh viện vì sợ bác sĩ mắng. Ông Cần cũng hết lời thanh minh. Nhìn đứa trẻ sơ sinh đang ngủ ngon mà lòng ông xót xa thương cho số phận của bé mới sinh ra đã là đứa trẻ vô thừa nhận. Thật ông trời bất công người muốn có con thì khó, kẻ không muốn thì lại sinh ra rồi bỏ trốn. Bây giờ đưa bé vào bệnh viên lại thì thế nào? Mình đã phụ lòng bác sĩ tin tưởng nhờ mình. Hay là....một ý nghĩ hình như vừa thoáng qua...không, không thể được, trăm ngàn lần là không được. Bên tai ông văng vẳng câu chửi của chồng cô Hằng: "Chắc chắn là con rơi của ông Cần chứ không ai." Vậy là vô hình trung ông đã tự nhận mình là thủ phạm. Nhưng bây giờ ông làm sao đây? Thật bài toán mà không có đáp án. Phải chăng mình có nợ con bé ở kiếp trước...

    Ông Cần được về phép thăm nhà trước khi cùng đơn vị hành quân vào Nam.Thằng Nhân vừa được mười tám tháng cũng bập bẹ gọi bố...bố... Nó quấn chân bố cả ngày. Ông Cần dành hết thời gian quý báu ngắn ngũi của hai ngày phép chăm sóc cho con trai bé bỏng và vợ mình. Hai ngày phép sao mà chóng vánh như gió thoảng, ông đành tạm biệt và hôn lên trán con trai yêu dấu khi con còn đang ngủ say. Ông cố nén để những giọt nước mắt không rơi xuống má con trai, sợ nó thức giấc. Rồi ông bùi ngùi an ủi động viên vợ: " Em ở nhà cố gắng thay anh chăm bố mẹ già và con trai nhé, đất nước thống nhất anh sẽ về..."

    Đơn vị nhận được lệnh hành quân đánh vào Lộc Ninh cũng là lúc ông Cần nhận được tin nhà vợ ông không qua khỏi cơn sinh tử trong lúc vượt cạn. Trời ơi! Thì ra chỉ hai ngày phép ngắn ngũi đó cũng đủ cho ông và vợ mình có kết quả tuyệt vời của tình yêu. Nhưng tiếc thay...Khi người nhà đưa vợ ông lên trạm xá bị vỡ nước ối trên đường đi. Đứa bé ngộp trong bụng mẹ không còn cất tiếng khóc chào đời. Vợ ông mê man lại băng huyết. Các bác sĩ hết lòng cứu chữa trong điều kiện hiện có. Xót xa một điều nữa đứa bé sơ sinh ấy là con gái...

    Sau chiến dịch Hồ Chí Minh, Sài Gòn giải phóng, thống nhất đất nước, ông được giải ngủ về nhà do sức khỏe yếu và là thương binh vì chiến tranh đã cướp đi của ông một mắt. Ông phải một mình gà trống nuôi con, chăm sóc bố mẹ già. Rồi bố mẹ ông lần lượt qua đời. Ông cùng con trai vào Bình Phước lập nghiệp. Con trai ông cưới vợ sinh cho ông một đứa cháu trai đích tôn. Ông vui với hạnh phúc của con cháu.

    Giờ đây ông không thể nào lý giải nỗi về sự dun dủi có mặt của một đứa trẻ sơ sinh trong ngôi nhà. Ông bàng hoàng nghĩ đúng là mình nợ đứa bé gái này?

    Ông Cần đã bỏ bớt các sô đám cưới người ta gọi mà chủ yếu kèm đàn cho trẻ đến nhà để có thời gian chăm sóc cho bé Sinh. Ông cho bé bú bình, mỗi ngày pha sữa trong bình lớn để trong tủ lạnh ngăn hộc dưới cùng. Khi bé bú sữa thì ông rót ra bình nhỏ một ít, dư để vào hộc( khẩu vị và nhiệt độ sẽ đều trong ngày. Ngày cúp điện thì ông bỏ nước và cục đá trong bình đá để ngâm sữa.)

    Thằng Nhân con Ông Cần ở thành phố về thăm nhà thấy tình cảnh bố, Nhân phản đối kịch liệt: ''Bố già rồi một thằng cháu nội còn chưa chăm xong, sức đâu mà chăm một đứa bé như vậy. Không khéo hàng xóm cho là con bố''. Thằng Hùng cháu nội ông càng khó chịu hơn vì bao nhiêu tình thương ông giành cho nó, bây giờ như ông đã giành hết cho bé Sinh. Nhất là mỗi khi bé khóc oa oa Hùng không sao ngủ được, chốc chốc ông nội sai lấy cái tả, khi cái áo, lúc cái khăn, lại bình sữa... học bài cũng không xong, cả hai ông cháu phải cuốn theo con bé. Thằng Hùng rất ngây thơ nhưng nhiều lúc nó hỏi ông nội: ''Sao không thấy mẹ con bé đến đón nó vậy ông? Hôm trước ông nói chỉ trông tạm thôi mà?'' Mỗi lần thằng Hùng hỏi, ông lại thấy day dứt vì lúc đầu về ông muốn nói trấn an để nó đồng ý mà không ngờ mẹ bé Sinh vẫn...

    Điều ngại nhất và cũng là đề tài cho mọi người xầm xì là khi ông Cần bế bé Sinh đi tiêm ngừa. Có người hỏi: ''cháu nội hay cháu ngoại, sao bố mẹ nó đâu không bế đi?''. Nhiều lúc ông muốn nói: "Con tôi" nhưng ông không đủ dũng khí vì ông sợ người ta sẽ cười ông «Cha già con mọn».

    Một lần thằng Hùng nó hỏi: ''Ông nội ơi cháu gọi bé Sinh là gì?'' Ông nửa cười nửa mếu mà rằng: "Ừ thì là cô Sinh''. Thằng Hùng phản ứng ngay: ''Không, cháu không gọi vì nó bé hơn cháu mà.'' Ông đấu dịu: ''hay cháu gọi cô nhỏ đi nghe hay mà tình cảm nữa''. ''Vâng, cô nhỏ''. Thằng Hùng vừa gọi vừa cười.

    Thằng Hùng hôm nay lại đến lớp trễ, nhưng cô chủ nhiệm chỉ nhẹ nhàng bảo: ''Em vào lớp nhanh lên'' chứ không chấp vấn lí do. Cô nghĩ chắc tối quá bé Sinh bị sốt. Hai ông cháu lại hì hục chăm bé Sinh: chồm khăn ấm, cho bé uống hạ sốt và theo dõi xem nhiệt độ có hạ bớt không...

    Bé Sinh xem ra cũng có năng khiếu học đàn, ngón đàn của bé ngày càng lảnh lót. Thời gian rảnh ông Cần còn dạy bé Sinh tập vẽ và tô màu...

    Ngọc Dung

  • Buổi đấu giá

    Có một người đàn ông yêu thích mỹ thuật. Ông ta say mê đến mức gần như sống vì niềm say mê của mình. Sưu tập tranh là mục tiêu cả đời của ông.

    Ông làm việc rất chăm chỉ để dành tiền tiết kiệm nhằm mua thêm các tác phẩm hội họa cho bộ sưu tập của mình. Ông mua rất nhiều tác phẩm của các họa sỹ nổi tiếng. Người đàn ông này đã góa vợ. Ông chỉ có một người con trai. Ông đã truyền lại cho con mình niềm say mê sưu tầm đó. Ông rất tự hào về con trai của mình khi anh ta cũng trở thành một nhà sưu tầm nổi tiếng như ông.

    Một thời gian sau, đất nước bỗng có chiến tranh. Người con trai, cũng như mọi thanh niên khác, lên đường tòng quân. Và sau một thời gian thì câu chuyện xảy ra...

    Một hôm, người cha nhận được một lá thư thông báo rằng người con đã mất tích khi đang làm nhiệm vụ. Người cha đau khổ đến tột cùng. Thật là khủng khiếp khi người cha không thể biết được điều gì đang xảy ra với con mình.

    Vài tuần sau ông nhận được một lá thư nữa. Lá thư này báo với ông rằng con ông đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Ông gần như chết đi một nửa người.

    Thật khó khăn khi đọc tiếp lá thư đó, nhưng ông vẫn cố. Trong thư, người ta báo rằng con ông đã rút lui đến nơi an toàn. Nhưng thấy trên bãi chiến trường vẫn còn những đồng đội bị thương, con ông đã quay lại và đưa về từng thương binh một. Cho đến khi đưa người cuối cùng về gần đến khu vực an toàn thì con ông đã trúng đạn và hy sinh.

    Một tháng sau, đến ngày Noel, ông không muốn ra khỏi nhà. Ông không thể hình dung được một Noel mà thiếu con trai mình bên cạnh. Ông đang ở trong nhà thì có tiếng chuông gọi cửa. Đứng trước cửa nhà là một chàng trai tay cầm một bọc lớn.

    Chàng trai nói "Thưa bác, bác không biết cháu, nhưng cháu là người mà con bác đã cứu trước khi hy sinh. Cháu không giàu có, nên cháu không biết đem đến cái gì để đền đáp cho điều mà con bác đã làm cho cháu. Cháu được anh ấy kể lại rằng bác thích sưu tầm tranh, bởi vậy dù cháu không phải là một họa sỹ, cháu cũng vẽ một bức chân dung con trai bác để tặng cho bác. Cháu mong bác nhận cho cháu."

    Người cha đem bức tranh vào nhà, mở ra. Tháo bức tranh giá trị nhất vẫn treo trên lò sưởi xuống, ông thay vào đó là bức chân dung người con. Nước mắt lưng tròng, ông nói với chàng trai "Đây là bức tranh giá trị nhất mà ta có được. Nó có giá trị hơn tất cả các tranh mà ta có trong căn nhà này."

    Chàng trai ở lại với người cha qua Noel đó rồi hai người chia tay. Sau vài năm, người cha bị bệnh nặng. Tin tức về việc ông qua đời lan truyền đi rất xa. Mọi người đều muốn tham gia vào cuộc bán đấu giá những tác phẩm nghệ thuật mà người cha đã sưu tầm được qua thời gian. Cuối cùng thì buổi bán đấu giá cũng được công bố vào ngày Noel năm đó. Các nhà sưu tầm và những nhà đại diện cho các viện bảo tàng đều háo hức muốn mua các tác phẩm nổi tiếng. Toà nhà bán đấu giá đầy người. Người điều khiển đứng lên và nói "Tôi xin cám ơn mọi người đã đến đông đủ như vậy. Bức tranh đầu tiên sẽ là bức chân dung này..."

    Có người la lên "Đó chỉ là chân dung đứa con trai ông cụ thôi! Sao chúng ta không bỏ qua nó, và bắt đầu bằng những bức có giá trị thật sự?"

    Người điều khiển nói "Chúng ta sẽ bắt đầu bằng bức này trước!"

    Người điều khiển bắt đầu "Ai sẽ mua với giá $100?"

    Không ai trả lời nên ông ta lại tiếp "Ai sẽ mua với giá $50?"

    Cũng không có ai trả lời nên ông ta lại hỏi "Có ai mua với giá $40?"

    Cũng không ai muốn mua. Người điều khiển lại hỏi "Không ai muốn trả giá cho bức tranh này sao?" Một người đàn ông già đứng lên "Anh có thể bán với giá $10 được không? Anh thấy đấy, $10 là tất cả những gì tôi có. Tôi là hàng xóm của ông cụ và tôi biết thằng bé đó. Tôi đã thấy thằng bé lớn lên và tôi thật sự yêu quý nó. Tôi rất muốn có bức tranh đó. Vậy anh có đồng ý không?"

    Người điều khiển nói "$10 lần thứ nhất, lần thứ nhì, bán!"

    Tiếng ồn ào vui mừng nổi lên và mọi người nói với nhau "Chúng ta có thể bắt đầu thật sự được rồi!" Người điều khiển nói "Xin cảm ơn mọi người đã đến. Thật là vinh hạnh khi có mặt những vị khách quý ở đây. Bữa nay chúng ta sẽ dừng tại đây!"

    Đám đông nổi giận "Anh nói là hết đấu giá? Anh vẫn chưa đấu giá toàn bộ các tác phẩm nổi tiếng kia mà?" Người điều khiển nói "Tôi xin lỗi nhưng buổi bán đấu giá đã chấm dứt. Mọi người hãy xem chúc thư của ông cụ đây:

    NGƯỜI NÀO LẤY BỨC CHÂN DUNG CON TÔI SẼ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC BỨC TRANH CÒN LẠI! Và đó là lời cuối cùng!” 

  • Bài học từ loài ngỗng

    khi một con ngỗng bị bệnh hay bị thương rơi xuống, hai con ngỗng khác sẽ rời khỏi bầy để cùng xuống với con ngỗng bị thương và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở lại cho đên khi nào con ngỗng bị thương có thể bay lại được hoặc là chết và khi đó chúng sẽ nhập vào một đàn khác và bay về Phương Nam.

     

    Vào mùa thu, khi bạn thấy đàn ngỗng bay về phương Nam để tránh đông theo hình chữ V, bạn có tự hỏi những lý lẽ khoa học nào đó có thể rút ra từ đó? 

    Mỗi khi một con ngỗng vỗ đôi cánh của mình, nó tạo ra một lực đẫy cho con ngỗng bay sau nó. Bằng cách bay theo hình chữ V, đàn ngỗng tiết kiệm được 71% sức lực so với khi chúng bay từng con một.

    Khi là thành viên của một nhóm, ta cùng chia sẻ những mục tiêu chung, ta sẽ đi đến nói ta muốn nhanh hơn và dễ dàng hơn, vì ta đang đi dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau. Mỗi khi con ngỗng bay lạc hỏi hình chữ V của đàn, nó nhanh chóng cảm thấy sức trì kéo và những khó khăn của việc bay một mình. Nó nhanh chóng trở lại đàn để bay theo hình chữ V như cũ và được hưởng những ưu thế của sức mạnh bầy đàn. Nếu chúng ta cũng cảm nhận sự tinh tế của loài ngỗng, chúng ta sẽ chia sẻ thông tin với những người cũng đang cùng một mục tiêu như chúng ta. Khi con ngỗng đầu đàn mệt mỏi, nó sẽ chuyển sang vị trí bên cạnh và một con ngỗng khác sẽ dẫn đầu. Chia sẻ vị trí lãnh đạo sẽ đem lại lợi ích cho tất cả và những công việc khó khăn nên được thay phiên nhau đảm nhận. Tiếng kêu của đàn ngỗng từ đằng sau sẽ động viên những con đi đầu giữ được tốc độ của chúng.

    Những lời động viên sẽ tạo nên sức mạnh cho những người đang ở đầu con sóng, giúp họ giữ vững tốc độ, thay vì để họ mỗi ngày phải chịu đựng áp lực công việc và sự mệt mỏi triền miên. Cuối cùng khi một con ngỗng bị bệnh hay bị thương rơi xuống, hai con ngỗng khác sẽ rời khỏi bầy để cùng xuống với con ngỗng bị thương và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở lại cho đên khi nào con ngỗng bị thương có thể bay lại được hoặc là chết và khi đó chúng sẽ nhập vào một đàn khác và bay về Phương Nam.

    Nếu chúng ta có tinh thần của loài ngỗng, chúng ta sẽ sát cánh bên nhau khi có khó khắn. Lần sau có cơ hội thấy một đàn Ngỗng bay bạn hãy nhớ....Bạn đang hưởng một đặc ân khi là thành viên của một nhóm.

Read more...
Kiếm tiền từ việc upload file, bạn đã thử chưa?Miễn phí upload và chia sẻ file không giới hạn

NotePad24h tạo ghi chú miễn phí và lưu trữ vĩnh viễn. Nó chỉ có thể xóa bởi bạn!

Đăng nhập or Đăng ký để xóa hoặc theo dõi.